Lưu lại?

Chào mừng đến với DIỄN ĐÀN DU LỊCH - Diendandulich.Net.

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng đọc kỹ HƯỚNG DẪN của chúng tôi. Bạn có thể ĐĂNG KÝ để post bài và tham gia nhiều hoạt động khác của diễn đàn.

Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1

    Tóm Tắt
    Quá trình hình thành
    Những nét văn hóa đặc sắc của người Khmer
    Đời sống vật chất
    Văn hóa sản xuất
    Nếp ăn
    Trang phục
    Nếp ở
    Phương tiện vận chuyển
    Văn hóa tinh thần
    Văn hóa tổ chức đời sống
    Hôn nhân
    Tang ma
    Đời sống tín ngưỡng
    Các lễ hội truyền thống của người Khmer
    Lễ hội Sel – Dolta
    Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ
    Lễ hội Ook – om – bok
    Lễ hội đua ghe ngo
    Tôn thờ Thần Neak Ta
    Tôn thờ Phật
    Chùa và Sư sãi trong quan niệm của người Khmer Nam bộ
    Đời sống văn nghệ
    Ca hát dân gian trong lễ cưới của người Khmer Nam bộ
    Văn học và nghệ thuật
    Tài liệu tham khảo
    26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif



    Quá trình hình thành:
    Nước Việt Nam là đất nước có hơn 54 dân tộc. Tất cả đều tin vào truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, nên luôn xem nhau như anh em một nhà, vì đều là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
    Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc đều có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh xã hội, chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước.
    Trong quá trình chinh phục thiên nhiên tùy theo điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, để tồn tại và phát triển, mọi dân tộc đều có những sáng tạo riêng để tìm ra những phương thức sống thích hợp nhất.
    Ở vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên… phương thức canh tác của đồng bào chủ yếu là phát nương làm rẫy… với vùng núi hoang sơ, phuơng thức sản xuất lạc hậu, là mảnh đất “màu mỡ” cho sự phát sinh, phát triển các nghi lễ đầy huyền bí. Nơi bắt nguồn của những huyền thoại, của những sử thi, trường ca với những nhạc cụ thô sơ, đàn đá, cồng chiêng, quê hương của rượu cần, nhà sàn…
    Bên cạnh là vùng đồng bằng và trung du, các dân tộc chủ yếu làm lúa nước, dựng nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, là cây đa, giếng nước… Nghề nông, làng xóm là nguồn cảm hứng của những lành điệu dân ca, hát ghẹo, ví dặm (Bắc bộ); những khúc ca cải lương, bài chòi, hát bội…(Nam, Trung bộ). Trong những dân tộc sống quay quần trên đất nước Việt Nam thì người Khmer ở Nam bộ đã đóng góp một phần vào sự phát triển chung của dân tộc.
    Những nét văn hóa đặc sắc của người Khmer:
    Người Khmer có từ sau khi Chân Lạp chiếm Phù Nam cho đến thế kỷ XV và người Khmer di dân từ nhiều vùng đất trên đất nước Campuchia theo sông Cửu Long về vùng đất Nam bộ để tránh họa diệt tộc của vua chúa cầm quyền lúc đó và chiến tranh xâm lược của Xiêm La. Dân tộc Khmer ở nước ta có khoảng 1 triệu người, họ sống phần lớn ở những vùng đất cao, chủ yếu là tập trung ở các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang…
    Họ còn có tên khác như: Việt gốc Miên, Khmer Crôm. Trước thế kỷ XVII, người Khmer giữ vai trò chủ thể ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ngôn ngữ Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer. Họ có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hóa, một lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh (Việt), Hoa trong các phum, sóc…
    Đời sống vật chất:
    Văn hóa sản xuất:
    Người Khmer từ rất lâu đời đã là cư dân thành thạo canh tác nông nghiệp lúa nước mùa vụ. Bộ nông cụ của họ khá hoàn thiện và hiệu quả, thích ứng với các điều kiện sinh thái đồng bằng Nam bộ, trong đó có cái “phảng” chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cái “cù nèo” dùng để vơ cỏ, cây “nọc cấy” dấu vết của cây gậy chọc lỗ tra hạt xưa, tạo ra lỗ để cắm cây mạ xuống những chân ruộng nước, đất cứng và cái “vòng gặt” để gặt lúa còn gọi là (cần điêu)… Những dụng cụ nông nghiệp thủ công trên được con người sử dụng trong một nền công nghiệp lúa nước, giỏi làm thủy lợi và dùng phân bón.
    Cùng với lúa nước, người Khmer còn phổ biến trồng các loại như: đậu, ngô, khoai, rau, nứa, hành, ngò, dưa hấu và các loại cây ăn quả như nhãn, cam, bưởi…
    Người Khmer còn có nghề đánh cá, dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm đồ gốm..
    Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm trong sân vườn, người Khmer còn chăn nuôi vịt quanh năm trong các lò vịt, nuôi hàng ngàn con vịt tàu để lấy trứng và bán thịt. Vùng có nhiều đồng cỏ thì phổ biến nuôi trâu, bò để bán.
    Vùng đồng bằng Nam bộ đầy sông, rạch, biển cả nên người Khmer cũng thành thạo đánh cá trên sông, biển bằng tàu, thuyền giăng lưới, quăng chài, lờ, đó, đơm, xà neng…
    Người Khmer cũng thành thạo nghề đan mây tre, tạo thành những đồ đựng, đồ chứa như: các loại giỏ xách, quả, làn đựng hoa trái, trầu thuốc…; đan các dụng cụ đánh bắt cá như: lờ, đó; cùng với nghề đan dệt thảm chiếu trơn, chiếu hoa. Đặt biệt là các hàng dệt vải, lụa, chăn, khăn tắm, khăn đội đầu… qua bàn tay người phụ nữ Khmer rất được thị trường ưa chuộng. Họ còn có nghề nhuộm (mặc mưa). Trái mặc mưa lúc mới già đem giã nhỏ, quấy với nước lạnh để nhuộm hàng tơ lụa rất tốt, càng ra nắng lại càng ra màu đen bóng.
    Người Khmer có truyền thống làm gốm từ lâu đời. Trước đây làm gốm chưa có bàn xoay, nay đã biết làm gốm có bàn xoay, phổ biến là các loại nồi (cà om), các loại cà rằm – một loại bếp lò có thể đun nấu trên sàn hoặc trên thuyền. Nghề làm thợ mộc, thợ nề, làm đường thốt nốt cũng thường thấy ở các phum, sróc người Khmer cùng với nghề thợ bạc, làm các ô trầu, hộp thuốc, bình vôi, xường nĩa, đồ trang sức cũng khá phát triển.
    Nói tóm lại, văn hóa sản xuất hay văn hóa mưu sinh ở dân tộc Khmer cơ bản là nghề canh tác nông nghiệp lúa nước cùng các nghề phụ như chăn nuôi, trồng màu, làm các nghề thủ công phục vụ đời sống của cư dân nông nghiệp.

    Nếp ăn:
    Bữa ăn của người Khmer cũng gọi là cơm như người Kinh, cơm gạo tẻ là tố chất cơ bản nuôi sống người Khmer. Người Khmer ăn cơm tẻ và cơm nếp, họ cũng cấy được nhiều loại lúa nếp để chế biến các món ăn từ gạo nếp như: xôi, bánh tét, bánh chưng, bánh chuối, bánh ú, làm rượu cất từ gạo nếp rồi chưng lại uống – một món rượu nổi tiếng của người Khmer. Trong bữa nhậu người Khmer thường dùng cháo như cháo vịt, cháo cá. Người Khmer có món ăn đặc sản là bún nước lèo không thể thiếu được vào ngày mồng một tết ở chùa và trong mỗi gia đình. Bún dẻo sợi nhỏ, khô, chan ăn với nước lèo cá quả tán nhỏ cùng các loại gia vị, rau hành ăn không chán. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá, ếch, nhái, rau… được bắt ở kênh rạch, sông ngòi. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, luộc, kho với nước cốt dừa. Ngoài ra, họ thường phơi các loại cá ăn dần và chế thành nhiều loại mắm từ cá. Họ chế biến nhiều loại mắm, nổi tiếng nhất là mắm “Bhóc” còn gọi là nrahóc làm từ cá sọc, cá trê, có thể ăn kèm với cơm, bún, cho vào canh, làm nước lèo chan bún. Ngoài mắm bhóc người Khmer còn có các loại mắm khác như: mắm ơn pử làm bằng tôm tép, mắm pô inh làm từ cá sặc… Gia vị được sử dụng và ưa thích nhất của họ là từ quả me hay mà; các vị cay, tiêu, ớt, tỏi, sả, càri… cũng được ưa thích.

    Trang phục:
    Về y phục, trước đây nam nữ đều mặc “xà rông” bằng lụa tơ tằm tự dệt. Trang phục ở người Khmer ngày nay giống người Kinh ở các địa phương. Thanh niên nam nữ trong ngày thường cũng như trong lễ hội thích mặc quần nâu, áo sơ mi. Những bộ trang phục truyền thống chỉ còn thấy ở thanh niên khi ở nhà: quần xà rông dệt bằng tơ với áo mỏng sát nguời có màu sắc sặc sỡ, bộ quần áo bà ba đen, trên đầu đội khăn rằn. Người già, người đứng tuổi mặc áo bà ba đen, nam giới nhà khá giả mặc quần áo bằng lụa trắng với chiếc khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt ngang vai.
    Trong tổ chức hôn lễ cả cô dâu và chú rễ đều mặc trang phục truyền thống. Chú rễ mặc xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên trái vai quàng khăn dài trắng (Kăl xinh) và tay cầm con dao cưới (Kăm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu (đây là tàn dư của thời tranh cướp vợ trước đây). Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy) màu tím hay hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn rua thêu rất đẹp và đội mũ cưới truyền thống - kiểu mũ chụp từ đầu tỏa xuống hay mang tai, trên mũ thêu rua đẹp, đỉnh mũ có nhiều hạt ngọc bích. Áo dài (Wên) của phụ nữ Khmer gần giống như áo dài của phụ nữ Chàm: dài quá đầu gối, chỉ xẻ tà một ít ở gấu áo, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu, ống tay áo hẹp, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải khác màu kéo dài từ nách đến gấu áo. Trong các dịp lễ hội, phụ nữ lớn tuổi cũng thường mặc áo dài màu đen, màu nâu mà người Kinh gọi là áo tầm vông hay áo cổ bà lai, quanh cổ quấn khăn trắng vắt qua vai thành hai múi.

    Nếp ở:
    Trước đây các phum, sróc của người Khmer thường tọa lạc trên suờn đồi (vùng Kiên Giang, An Giang) hoặc trên những giồng cao (ở vùng đất trũng). Gần đây do áp lực kinh tế thị trường và dân số, các phum, sróc của người Khmer đã ở dọc hai bên trục quốc lộ, dọc các dòng sông hay kênh rạch.
    Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong nhà trệt, mái lá, vách đơn giản. Họ cũng ở nhà sàn như trước đây nhưng hiện nay còn rất ít trong các phum, sróc dọc biên giới với Campuchia thuộc tỉnh Kiên Giang, hoặc ở nhà hội hợp (nhà sa la) – nhà ở của các vị sư trong các chùa ở vùng này. Ngày nay thì người Khmer hầu hết là ở nhà nền đất như người Kinh. Nhà nền đất có thể chia làm hai dạng:
    Dạng nhà nghèo, nhà cỡ nhỏ chỉ có hai mái, mái trước ngắn, mái sau dài, cột kèo đều bằng gỗ nhỏ, bằng tre, mây buộc, mái lợp lá dừa hoặc lá thốt nốt, xung quanh che phên lá đơn giản.
    Còn nhà cỡ lớn thường gắn với tầng lớp trung phú nông. Nhà bốn mái gồm: hai mái chính, hai mái phụ đầu hồi. Kết cấu bộ khung nhà đều bằng gỗ, các cột xà ngang, xà dọc, kèo dâm, kèo trích gắn kết với nhau bằng những lỗ đục mộng ngoàm. Xung quanh nhà thường có ván gỗ hoặc xây tường che khuất.
    Người Khmer thường bố trí nhà làm đôi theo chiều dọc bởi những vách ngăn phía ngoài, gian giữa đặt bàn ghế tíêp khách và kê sát vách ngăn một tủ kính, trong bày những chiếc gối thêu, chăn màn vừa là để trang trí vừa là để dùng khi có khách. Hai bên chổ tiếp khách đặt giường ngủ của đàn ông. Từ chỗ tiếp khách mở hai cửa vào phần nhà bên trong, nơi đó là buồng ngủ của đàn bà, con gái. Từ vách sau nhà cò cửa thông ra sân sau khu vực hậu cần của gia đình.
    Cách bố trí nhà như vậy là do người Khmer quan niệm: mọi tín ngưỡng thờ cúng đều được thực hiện ở trên chùa. Khi cần cúng tổ tiên, khi có lễ cưới, lễ tang thì bài ra cúng ở giữa nhà.
    Kiến trúc nhà của người Khmer có sự tương phản rõ rệt giữa nhà của người dân trong phum, sróc với chùa. Ngôi nhà ở của người dân tre lá đơn sơ bao nhiêu (của tầng lớp bần cố nông) thì ngôi chùa lộng lẫy bấy nhiêu. Đến vùng người Khmer cư trú, trông từ xa thấy một không gian cây cổ thụ xanh tốt, trong đó kiến trúc gạch ngói, đó là một ngôi chùa. Dựng chùa, nuôi chùa là hạnh phúc lớn của toàn dân Khmer. Người Khmer dành hết mọi nguồn lực, tài nghệ và vật liệu xây dựng tốt nhất cho ngôi chùa. Cao và nổi bật lên trung tâm ngôi chùa Khmer là chính điện được tổ hợp giữa kíên trúc gỗ, gạch đá, ngói thành ngôi nhà cao to 5 - 7 gian, chạy dọc theo hướng đông – tây với hàng hiên rộng bao quanh, nóc nhọn vút như lưỡi búa chổng ngược lên nhau, trên nóc cột đỉnh chỏm tháp vá các đầu mái vút lên như những nóc dừa. Trong chùa bàn thờ Phật bao giờ cũng đặt ở đầu nhà phía Tây, Phật nhìn về phía Đông phù hộ chúng sinh. Có những ngôi chùa hai bên còn mở một hoặc hai gian thành ra ngôi chùa bốn mặt, mở ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Mỗi ngôi chùa Khmer là một bảo tàng về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tượng pháp bích họa trang trí trên trần, trên cửa, cột, hàng hiên, bệ tượng, thân tượng…với những mô-típ hoa văn rồng rắn, hoa lá, chim muông, thú vật xung quanh những sự tích về Phật.

    Phương tiện vận chuyển:
    Người Khmer là cư dân sống ở đồng bằng sông nước, làm nghề canh tác nông nghiệp lúa nước nên từ lâu đã hình thành phương tiện vận chuyển bằng xe với sức kéo của trâu, bò. Những cỗ xe đại, thùng gỗ, bánh nan hoa,vành gỗ bọc sắt, ngày nay là bánh xe hơi hai trâu hoặc bò kéo đã giúp ngưới Khmer vận chuyển phân bón ra đồng ruộng, nông lâm sản về nhà rất nhanh chóng, hiệu quả. Mặc khác trên đồng đất Nam bộ có nhiều sông ngòi, kênh rạch nên vận chuyển bằng đường thủy cũng rất phát triển. Xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền tắc rán hoặc thuyền đuôi tôm gắn máy… là phương tiện rất phổ biến đối với người Khmer. Đặc biệt là chiếc “ghe ngo” dài 30m, lòng hẹp 2m, bằng gỗ sao, có từ 30 – 40 tay chèo. Mũi và hai bên thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước… Ghe ngo được dùng vào lễ hội Chào Mặt Trăng gọi là lễ Ook – om – bok (tháng 10 âm lịch), mừng được mùa cảm ơn nước. Khi đua, hai hàng từ 20 – 40 người chèo hai bên nhịp nhàng theo tiếng chiêng lệnh và người bắt nhịp, thuyền lao ngược dòng sông với tốc độ từ 30 – 40 km/h.
    Tương truyền, ghe ngo là chiếc răng của Phật nên ghe ngo gắn liền với nhà chùa, nhà chùa bỏ tiền ra đóng ghe, chi phí cho các cuộc luyện tập đua ghe, ngày thường ghe ngo được bảo quản trong chùa Khmer .
    Ngày nay, cũng như nhiều vùng Nam bộ, ở vùng đồng bào Khmer cư trú đã phổ biến những phương tiện hiện đại gắn với đường đá, đường nhựa như ôtô, xe gắn máy, hay những thuyền gắn máy đi lại trên sông nước, kênh rạch, trên sông tạo nên sự giao lưu về kinh tế, văn hóa liên thông giữa các phum sróc và các thành phố người Kinh.

    Văn hóa tinh thần:
    Văn hóa tổ chức đời sống:
    Xã hội Khmer còn tồn tại những tàn dư của xã hội Mẫu hệ. Người Khmer có nhiều họ khác nhau. Những họ do triều đình nhà Nguyễn đặt là: Danh, Kim, Kiên, Sơn, Thạch; những họ tiếp thu từ người Việt, người Hoa đó là: Trần, Nguyễn, Dương…; lại có những họ thuần Khmer như: U, Khan, Khum… Ở người Khmer, phổ biến là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong gia đình nhỏ phụ quyền ấy có khi có 4 thế hệ ông, cha, con, cháu cùng chung sống dưới một mái nhà. Những người đàn ông đảm đương những công việc nặng nhọc như: cày bừa, làm nhà, sửa đường. Người ông hay người cha thay mặt gia đình giao dịch đối ngoại, phân công lao động trong gia đình. Tuy vậy, gia đình người Khmer vẫn còn đậm nét chế độ mẫu hệ, người mẹ vẫn đóng vai trò nhất định trong đời sống gia đình, nắm giữ tay hòm chìa khóa, cùng với người chồng bàn bạc chi tiêu trong gia đình, quyết định việc lễ lạt, cúng tế trong gia đình và trên chùa, quyết định cả việc cho những con trai lên chùa tu. Trong việc sở hữu và kế thừa tài sản không phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, ngoài tài sản chung sau khi kết hôn vợ và chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng về đất đai và các tài sản khác do cha mẹ cho. Khi li dị, tài sản của ai người đó sở hữu, tài sản chung thì chia đều. Tất cả con trai và con gái, con trưởng và con thứ đều được thừa kế tài sản như nhau.
    Người Khmer cố kết tông tộc, dòng họ để phân biệt huyết thống khi diễn ra quan hệ hôn nhân. Mỗi dòng họ thờ một Arak (vị tổ) của dòng họ hoặc ngược lại của một Arak nhiều dòng họ. Cố kết dòng họ ở người Khmer không mạnh bằng cố kết giữa gia đình và nhà chùa.
    Người Khmer tổ chức xã hội theo phum, sróc (người Kinh đọc thành sóc). Phum là đơn vị cư trú có thể chỉ có một dòng họ, gồm một số gia đình con cháu, có thể nhiều gia đình của nhiều dòng họ. Phum như làng, ấp của người Kinh. Còn Sróc gồm nhiều phum tương tự như xã, tổng có khi là cả một huyện ở người Kinh. Đứng đầu phum có một Mê phum, đứng đầu một sróc có Mê sróc điều hành mọi mặt đời sống trong phum, sróc. Ngày nay gọi là ấp trưởng hay xã trưởng.
    Đặc biệt ở xã hội người Khmer đời và đạo Phật Tiểu thừa gắn liền làm một. Toàn dân Khmer theo đạo Phật, mỗi sróc ít nhất cũng có một ngôi chùa. Các vị sư sãi tu hành trên chùa về thực chất không nắm một chức vị nào trong chính quyền nhưng lại có địa vị rất quan trọng trong mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội ở người Khmer. Mọi việc như: hôn lễ, tang lễ, lễ tết, lễ hội, học tập của con cháu, chuẩn mực đời sống đạo đức trong phum, sróc người Khmer phụ thuộc vào quyết định của các sư sãi.

    Hôn nhân:
    Nguời Khmer vẫn tồn ịai hôn nhân con cô con cậu, con dì con già. Thanh niên nam nữ tự do lựa chọn bạn đời, nhưng thường là do cha mẹ hai bên sắp đặt. Người con trai cư trú bên nhà vợ, làm việc lại co nhà vợ để bù đắp lại tiền của, phí tổn mà nhà gái đã bỏ ra để tổ chức hôn lễ bên nhà gái. Trước đây, người Khmer tồn tại một tục lệ người con gái đi hỏi chồng, cho nên ngày nay hôn lễ vẫn diễn ra bên nhà gái. Thời gian người con trai ở rễ không nhất định, thường khi đã có con thì vợ chồng tách ra ở riêng.
    Hôn lễ đều được diễn ra 3 bước: Bà mối chạm ngõ, lễ dạm ngõ, những lễ này nhà trai phải mang sang nhà gái. Sau đó là lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, nhà gái chụi mọi phí tổn cho lễ cưới. Lễ cưới diễn ra có vai trò của nhà sư tham dự. Người Khmer làm các loại bánh: bánh gừng (mum khahây), bánh nặn hình cánh quạt (mum meang nok som bok chop), bánh ổ chim được xếp đặt lên khay là đặt trước bàn thờ Phật trong nhà. Chú rễ, cô dâu trong trang phục truyền thống lộng lẫy, quỳ trên gối vuông, khom lưng chắp tay vái nhà sư đang tụng kinh cầu phúc cho họ. Sau đó, nhà sư tiến hành lễ cắt bông cau (cau còn trong bẹ) tượng trưng cho sự trong trắng hạnh phúc lứa đôi.Trong lễ cưới, người Khmer còn có tục chà răng (đánh răng tượng trưng) liên quan đến việc tu Phật. Đó là do từ xa xưa truyền lại rằng: Người Khmer mang dòng giống của loài rắn Naga. Rắn thừơng phun nọc độc nên khi cưới nhau, sinh con cái phải chà răng khử độc. Nếu chú rễ đã qua thời gian tu hành thì có nghĩa là đã chà răng, nên chỉ tiến hành lễ chà răng cho cô dâu, còn nếu như chưa thì cả hai cùng tiến hành lễ này.

    Tang ma:
    Toàn dân Khmer theo đạo Phật Tiểu thừa, tiếp thu quan niệm sinh tử của đạo Bà La Môn giáo. Con người Atma - tiểu vũ trụ từ đại vũ trụ Brahama tách ra mà thành. Khi chết con người tiểu vũ trụ lại trở về với đại vũ trụ nên thi hài phải nhanh chóng thiêu đi để linh hồn không còn nơi bám víu, nhanh chóng trở lại với đại vũ trụ để lại tách ra đầu thai vào kiếp khác. Vì thế tang lễ được tiến hành theo nghi thức hỏa táng với quan niệm sẽ thiêu đốt hết mọi tội lỗi trước khi sang kiếp khác.
    Khi gia đình có người gìa qua đời, thầy achar (người đã qua tu hành, thông thạo mọi nghi lễ trong phm, sróc) hướng dẫn liệm xác, không được bọc nhiều để dễ thiêu xác, chỉ thay quần áo mới, bỏ vào miệng thi hài vài đồng tiền với quan niệm để người chết có tiền đi đường, phủ miếng vải trắng lên mặt. Sau đó, thầy achar và các vị sư sãi (tuỳ theo mức độ giàu – nghèo của gia chủ mà có thể từ 2 – 4 vị sư sãi), vừa tụng kinh vừa hướng dẫn đặt thi hài vào quan tài cho ngay ngắn. Nhà giàu có áo quan riêng bằng gỗ tốt, sơn vẽ trang trí, thiêu xác luôn cùng áo quan. Nhà nghèo thì mượn áo quan của nhà chùa, khi thiêu thì rút tấm ván hậu cho thi hài lọt xuống đống củi thiêu, quan tài được tẩy uế trả lại cho nhà chùa để người sau mượn…
    Khi quan tài còn quàn trong nhà, trên nắp quan tài thắp 3 cây đèn cầy (nến). Cây thứ nhất tượng trưng cho đức Phật chứng giám (preh nuth), cây thứ hai tượng trưng cho đạo đức người chết trong sạch (preh tho), cây thứ ba tượng trưng cho chân tu theo Phật (preh soong). Ngọn lửa của các cây đèn cầy chứng giám cho người quá cố đã mãn đời, cháy suốt ngày đêm cho đến khi đưa tang. Dưới chân quan tài đặt lon cát cắm hương, trên đầu quan tài đặt cái thúng gọi là chol ta bông, đặt 3 hay 4 bát gạo, 1 nồi đất, 2 cây đèn, 4 bát cơm, 4 đôi đũa, 2m vải trắng, 1 quả dừa khô bóc vỏ, 2 cái chôm tết bằng lá dừa cắm trên khúc chuối cao 15cm. Đó là những lễ vật, đồ đạc để người chết dùng ở thế giới bên kia. Khi quan tài còn để trong nhà, chỗ mọi người dễ thấy nhất là thường chôn một cột gạo, trên treo một lá cờ trắng vẽ hình con cá sấu, ý nghĩa là để xua đuổi chằng (yêu quái) không đến quấy nhiễu linh hồn người chết.
    Khi đưa tang, thầy achar và các vị sư sãi ngồi trên xe hoặc ghe đầu, quan tài trên xe hoặc ghe sau. Thầy achar tay cầm lá cờ trắng vẽ hình cá sấu xua đuổi tà ma, tay cầm cái “phạng” treo nồi đất, ý nghĩa là cuộc đời con người như cái nồi đất được nặn chế ra, sử dụng đến khi hư hỏng đến khi qua đời. Nồi đất sau đó được treo vào một chỗ nào đó hoặc đem biếu cho thầy achar. Trên đường đưa tang, thầy achar tung rắc cốm (bằng thóc ngâm nước phơi khô, rang nổ bông), ý là con người sống bằng lúa gạo khi chết có nhiều lúa gạo để rang cốm sẽ không bị đói.
    Trước khi thiêu xác quan tài được rước vòng quanh chỗ thiêu 3 vòng từ phải qua trái, từ dương sang âm, ý là người chết từ cõi dương về cõi âm. Sư cả được mời châm lửa thiêu xác. Trong khi thiêu, các nhà sư liên tục tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thoát, đồng thời các nhà sư làm lễ xuống tóc cho con hoặc cháu trai người quá cố vào chùa tu hành báo hiếu, để đền đáp ơn nghĩa người quá cố (gọi là lễ buas múc phton).
    Tro than hỏa táng được nhặt rửa bằng nước dừa, rượu sau 7 ngày hoặc 9 ngày (tuỳ theo tuổi thọ người chết), tang chủ tổ chức lễ cầu phước cho người chết một đêm, nhà giàu có thể kéo dài vài ba đêm. Tro cốt được bày ra, lễ tiến hành ở giữa nhà, mời các vị sư sãi đến làm lễ tụng kinh. Sau đó cốt tro than được thu cất vào trong lọ sành, có thể cất ở tháp cốt trong nhà riêng nếu gia đình có xây tháp đựng cốt. Nhưng ở người Khmer, thiêng liêng nhất là “Ruos puhơ bobos slăp puhơ chương” (sống giữ của, chết giữ xương), sống không tiếc công của dâng cúng chùa, chỉ mong khi chết được giũ xương cốt trong tháp cốt nhà chùa để được mát mẻ dưới bóng bồ đề.
    Sau 100 ngày, con cháu lại làm lễ cầu phước cho người đã khuất. Gia đình mời sư sãi đến tiến hành lễ đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết siêu thoát, con cháu cởi bỏ khăn tang với quan niệm đủ 100 ngày (số đại đương 99 + 1), đủ sinh sôi phát triển, linh hồn có thể tự lập được cuộc sống (như người Kinh). Sau đó, quan hệ giữa người sống và người chết chấm dứt.

    Đời sống tín ngưỡng:
    Các lễ hội truyền thống của người Khmer:
    Lễ hội Sel – Dolta: (gọi là lễ cúng Ông bà)
    Cộng đồng người Khmer Nam bộ là cư dân nông nghiệp lúa nước, lại rất mực tin theo đạo Phật giáo Tiểu thừa nên đời sống tín ngưỡng diễn ra gồm những khía cạnh sau:
    Cũng như các dân tộc khác, người Khmer ở Nam bộ có cách thức làm lễ báo hiếu riêng của mình và lễ đó được gọi là Sel – Dolta ( hay gọi là lễ Ông bà).
    “Sel - Dolta” dịch ra tiếng phổ thông có nghĩa là “cúng ông bà”, do đó lễ hội Sel – Dolta bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian. Từ xa xưa, đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiện hữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, nhưng linh hồn thì vẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng. Xuất phát từ đó, hình thức “sel” (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống đối với người đã khuất. Việc “sel” chủ yếu nhằm vào hai đối tượng là hồn linh những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình và những có công tạo lập, bảo vệ công đồng dân tộc.
    Chùa Khmer là nơi sinh hoạt văn hóa dành cho cả cộng đồng, nên bất kỳ cuộc lễ nào cũng đều đưỡc tổ chức ở đó. Vào những ngày Sel – Dolta, hầu như bà con thức suốt đêm để vui chơi bên nhau. Đêm đến, các đôi trai gái sánh vai nhau nhịp nhàng với điệu Lăm – thon trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm vang vang như làm hăng thêm nhịp múa. Nơi kia, từng cặp, từng đôi say sưa với điệu hát À – day.
    Thời xưa, khi người đất phương Nam còn “làm chơi ăn thiệt”. Theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ Sel – Dolta cổ truyền kéo dài đến nửa tháng, lúcc công việc ruộng nương đã hoàn tất việc cày cấy cho vụ lúa mùa. Những ngày này, mọi người trong nhà chuẩn bị cơm cùng bánh trái và hoa quả ngon mang đến chùa, tổ chức thành lễ hội chung của phum, sróc và nhờ các vị sư sãi tụng kinh cầu nguyện mọi điều tốt lành cho vong linh những người thân ở cõi vĩnh hằng, để tỏ lòng báo hiếu và tri ân đối với ông bà tổ tiên.
    Lễ hội Sel – Dolta của đồng bào Khmer Nam bộ là lễ hội lớn trong năm của đồng bào, mang màu sắc tín ngưỡng dân gian xen lẫn tôn giáo, chứa đựng nhiều yếu tố tích cực. Lễ hội thể hiện được truyền thống đạo lý “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc. Bên cạnh đó, qua nội dung của lễ hội đã giúp cho gia đình sum họp, đằm ấm; thắt chặt tình đoàn kết yêu thương giúp đỡ nhau trong phum sróc. Vật Sel – Dolta tượng trưng không thể thiếu được là bánh tét (đồng bào gọi là num – chruôt) nhằm tượng trưng cho ý nghĩa đó.
    Ph – chum Benh là một tên gọi của lễ Sel – Dolta thừơng đựơc ghi trong sách vở. Ph –chum Benh nghĩa là lễ tụ hội phước đức, vì người Khmer xem lễ này là lễ lớn nhất trong các lễ tạo phước đức. Từ “lễ” trong tiếng Khmer là “pinda” hoặc “puya” (nhân, tăng thêm… hay punna) nghĩa là công đức, phúc đức… Người Khmer làm bất cứ một lễ nào hầu như để tạo phước đức.
    Đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ qua đời sung sướng nhất là cốt tro than được giữ trong tháp cốt nhà chùa, được mát mẻ dưới bóng bồ đề và có con hoặc cháu trai xuống tóc lên chùa tu báo hiếu, linh hồn người chết ít tác động phù hộ cho người sống nên trong nhà người Khmer bàn thờ tổ tiên không quan trọng bằng bàn thờ Phật (điểm này rất khác so với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh, vì đối với người Kinh nơi trang trọng và tôn nghiêm nhất được đặt chính giữa nhà là bàn thờ tổ tiên, ông bà…). Lễ cúng tổ tiên được quy định là ngày lễ chung của toàn dân Khmer gọi là lễ “sel – dolta”.
    Cũng như lễ Vu Lan báo hiếu của đồng bào dân tộc Kinh, đồng bào Khmer Nam bộ có ngày Lễ Sen Dolta để ghi nhớ công ơn sinh thành nuôi dưỡng của ông bà, cha mẹ vào các ngày từ 29/8 đến 1/9 âm lịch hằng năm (theo lịch của người Khmer). Lúc này đang là mùa mưa, lúc lúa đang xanh tươi, tiếng chim riết róng kêu nên người Khmer gọi là chim tổ tiên (Sath đôn ta).
    • Ngày thứ nhất: các gia đình đồ xôi, đóng oản, rắc muối vừng cùng các thứ trái cây dâng lên chùa cúng Phật, dâng cơm sư sãi, mời tổ tiên về chùa hưởng lộc, đồng thời bố thí Khmach hay sách (ma quỷ đói khát). Các gia đình người Khmer đều tập trung vào chùa để nghe kinh Phật và cúng linh vị tổ tiên đã gửi vào đây.
    • Ngày thứ hai: các gia đình giết gà, vịt xào nấu các món ăn cúng mời ông bà, tổ tiên về hưởng lễ.
    • Ngày thứ ba: lễ cúng tiễn tổ tiên, ông bà; lễ vật cũng như ngày thứ hai.
    Gia đình mời bạn bè, khách qua đường đến ăn uống vui vẻ. Sau đó, gia đình xẻ một ít thức ăn đặt lên bè chuối thả trôi sông để ông bà có thức ăn đi đường, trên bè có cắm cờ vẽ hình cá sấu ý muốn xua đuổi tà ma.
    Những món ăn thân thiết, gần gũi với đời thường như trái cây vườn nhà, sản vật chợ quê, nếp thơm dẻo được bàn tay khéo léo của phụ nữ Khmer chế biến thành thức ăn truyền thống như bánh tét, bánh nếp, bánh ít dâng lên bàn thờ cúng tổ tiên.
    Con cháu các hộ Khmer còn chuẩn bị các thức ăn, lễ vật có ý nghĩa dâng lên ông bà, cha mẹ còn sống để tỏ lòng hiếu kính.
    Những ngày Lễ Dolta tại các chùa Khmer còn tổ chức nhiều hoạt động biểu diễn các loại hình nghệ thuật như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa Ramvong, dân tộc truyền thống… để nhân dân vui chơi, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer Nam bộ.
    Riêng đồng bào Khmer ở tỉnh An Giang thì sau các hoạt động văn hóa nghệ thuật tại các chùa còn tổ chức Lễ hội đua bò Bảy Núi.

    Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ:
    Đoàn dâng bông với những dầy (bà), những mìn (cô), những bòn (chị), mặc những chiếc xà rông (y phục truyền thống của dân tộc Khmer) mới tinh bưng những cây bông rực rỡ, lặng lẽ nối thành hàng, lũ lượt dọc đường quê mênh mang nắng gió, hướng về phía những ngôi chùa Khmer thâm nghiêm dưới những “rừng” cây xanh mát...
    Những cô gái đẹp được chọn bưng những cây bông rực rỡ, lung linh bao sắc màu huyền ảo. Trong con mắt trẻ thơ, cây bông mới lạ lẫm và đẹp đẽ làm sao! Những cây bông được trang trí bằng những sợi tua rua đong đưa theo bước chân người, lấp lánh bởi những chiếc gương tròn nhỏ, xinh xinh. Đong đưa theo nhịp chân bước còn là những đồng tiền giấy được xếp gọn và cột lại rất xinh xẻo. Lễ dâng bông tiếng Khmer gọi là Bon phkar. Lễ được tiến hành theo nghi thức Phật giáo. Vào lễ, ngày đầu tiên bắt đầu vào buổi tối. Trước hết các sư sãi đọc kinh cầu nguyện, xong tới các chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí phục vụ người đến dự lễ. Con sróc (người dân sống trong sróc) đến chùa đầy đủ. Khuôn viên chùa rộng vài héc-ta chật cứng người. Qua một đêm lễ hội, sáng hôm sau, đồng bào Phật tử mới làm lễ dâng bông dâng lên sư sãi.
    Khi những cây bông cuối cùng được dâng lên, buổi lễ kết thúc.
    Dâng bông là một tục lệ rất có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng: Người ta tổ chức quyên góp để đắp đường, tu sửa trường học, nhà tăng, nhà hội... Lễ dâng bông của từng địa phương, tuy cách làm cây bông mỗi nơi có khác nhau đôi chút nhưng việc tiến hành lễ và mục đích lễ ở cả khu vực miền Tây Nam bộ nói chung đều rất giống nhau. Tất cả đều thể hiện một ý thức cộng đồng rất cao. Điều này dễ dàng nhận thấy qua hình ảnh ngôi chùa ở từng phum sóc. Dù nhà ở của con sóc còn đơn sơ, đời sống còn khó khăn nhưng ngôi chùa của họ vẫn cứ uy nghi, tráng lệ. Trong không gian yên bình, ngôi chùa vươn mái cong lên nền trời xanh như một niềm kiêu hãnh, một niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tươi sáng.

    Lễ hội Ook – om – bok:
    Ook – om – bok hay còn gọi là lễ cúng trăng có nguồn gốc từ rất lâu đời của người Khmer, luôn được tiến hành hàng năm vào ngày rằm tháng 10 Âm lịch. Đây là ngày cuối cùng của một chu kỳ Mặt trăng xoay quanh Trái đất và cũng là thời điểm hết thời vụ của năm. Theo quan niệm của người Khmer, cúng trăng là để tạ ơn thần Mặt trăng suốt một năm đã bảo vệ mùa màng, đem lại mưa thuận gió hòa, giúp mùa màng bội thu, đồng thời giúp cho nông dân trúng mùa tới.
    Theo truyền thuyết, tiền kiếp của Phật Thích Ca là một con thỏ, sống quẩn quanh bên bờ sông Hằng. Một hôm, thần Sakah xuống trần giả làm người ăn xin để thử lòng thỏ. Không có gì làm phước, thỏ đốt lên đống lửa, nhảy vào và mời người ăn xin dùng thịt mình. Lửa bỗng dưng tắt ngấm và người ăn xin biến mất, rồi thần Sakah hiện ra khen ngợi lòng hy sinh cao đẹp của thỏ và vẽ hình thỏ lên Mặt trăng. Từ đó trở đi, người ta thường nhìn thấy hình con thỏ ngọc trên cung trăng vào tết Hạ nguyên (ngày 15/10 Âm lịch). Vì vậy, lễ cúng trăng là để tưởng nhớ đến tiền kiếp của đức Phật Thích Ca.
    Lễ cúng Ook – om – bok trong đêm rằm tháng 10 Âm lịch, thường diễn ra tại sân chùa, sân nhà, hoặc một khu đất trống nào đó để mọi người dễ dàng quan sát Mặt trăng. Trước khi trăng lên, người ta đào lỗ cắm hai thanh tre cách nhau khoảng ba mét và gác ngang một thanh tre khác như một cái cổng thật đẹp và đặt dưới cổng một cái bàn. Trên bàn có bày biện các thức cúng như cốm dẹp, khoai lang, khoai môn, dừa tươi, chuối, bánh kẹo... Trong mâm cúng luôn có một ấm trà, sau mỗi lần rót trà vào ly, người ta lại một lần khấn vái để nhớ ơn đức Phật.
    Khi trăng lên đỉnh đầu, một người lớn tuổi, đức độ, có uy tín được cử ra làm đại diện cúng Mặt trăng. Người cúng thắp nhang, rót trà và khấn nguyện. Trong quá trình cúng, trẻ em trong xóm tụ lại rất đông để đợi ăn bánh. Khi cúng xong, người lớn hướng dẫn trẻ em sắp thành một hàng dọc rồi lấy thức cúng mỗi thứ một ít đút vào miệng từng bé.
    Khi đút vào, bé không được nuốt ngay mà phải đợi khi được đút xong đủ mọi thứ vào miệng. Lúc này, người chủ lễ mới đấm vào lưng em đó nhè nhẹ ba cái, và hỏi lớn lên ước mơ sẽ làm gì.
    Vì thức ăn ở đầy trong miệng, em đó sẽ phát âm không rõ ràng khi trả lời nên sẽ tạo ra một trận cười sảng khoái cho những người xung quanh. Việc làm này là để đoán định tương lai của mỗi bé, để tượng trưng cho việc mọi người đã nhận được lộc của thần Mặt trăng và cũng là việc đánh dấu thành quả sau một năm lao động mệt nhọc của mỗi gia đình.
    Hai sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn và có sức thu hút mọi người nhiều nhất trong ngày lễ cúng trăng là thả đèn gió và đua ghe ngo.
    Đèn gió được cấu tạo từ những vật liệu tre, giấy quyến và dây kẽm, có hình vuông hoặc tròn (đèn tròn thông dụng hơn). Từ những nan tre chuốt nhẵn, người ta làm thành những vòng tròn có đường kính chừng 1m, sau đó liên kết những nan tròn ấy thành khối trụ có chiều cao chừng 2m, sau đó dán kín bằng giấy quyến, trừ đáy đèn để trống và gắn vào đó là một “ổ nhện” làm bằng kẽm lớn. “Ổ nhện” được phủ lên lớp gòn ta có tẩm ướt dầu phọng. Khi đốt lớp gòn, nhiều người cùng góp sức nâng đèn lên cao. Nhiệt độ làm giấy căng phồng, tạo ra lực đẩy. Những người nâng đèn nương tay theo và cùng buông tay khi lực đủ mạnh để đẩy đèn bay lên mà không bị chao nghiêng làm cháy giấy.
    Đèn bay thẳng lên không trung trong tiếng reo hò, vỗ tay của người xem. Tiếng nhạc trỗi lên càng làm đêm rằm náo nhiệt buông xuống. Hàng chục chiếc đèn được thả lên cả một vùng trời. Trên bầu trời, những ngọn đèn cứ đung đưa theo gió, xua đi những tai ương, rủi ro, bất trắc để phum sóc được yên bình. Năm nào cũng vậy, lễ thả đèn gió thu hút cả ngàn người đến xem, trong đó có nhiều khách đến từ tỉnh khác và cả du khách nước ngoài.

    Lễ hội đua ghe ngo:
    Đua ghe ngo là môn thể thao dân gian truyền thống không thể thiếu trong lễ hội Ook – om – bok, thu hút hàng vạn người xem. Lúc đầu, đây chỉ là một trò chơi dân gian diễn ra trong đêm cúng trăng, nhằm dâng lên các đấng thành tiên nơi cung trăng thưởng thức, vì vậy chỉ được tổ chức vào ban đêm, lúc trăng lên, sau khi đã thực hiện xong các nghi lễ cúng trăng. Dần dần, trò chơi này được nâng lên thành lễ hội, mang tầm khu vực, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân tham dự.
    Tương truyền chiếc ghe ngo xưa là phương tiện được trang bị cho dân quân đánh giặc trên vùng sông nước. Hầu hết các chùa đều có một chiếc ghe và được bảo quản cẩn thận. Hàng năm, vào dịp rằm tháng 10, ghe ngo lại được trang trí đẹp mắt, treo đèn kết hoa thật lộng lẫy. Để ngày hội đua ghe ngo hấp dẫn, đông vui, cách đó cả tháng các chùa đã chuẩn bị tuyển chọn tay bơi là những chàng trai Khmer vạm vỡ ở các phum sóc rồi tập dợt cho dẻo dai, đều nhịp mái chèo.
    Ghe ngo là một dạng thuyền độc mộc, có chiều dài từ 25 - 30m, chiều ngang từ 1 - 1,4m, có đóng nhiều thanh ngang vừa cho hai tay bơi ngồi theo cặp suốt chiều dài ghe. Mỗi ghe đua thường có 46 đến 60 người chèo, riêng người điều khiển nhịp chèo ngồi ở trước mũi. Ngoài ra còn có người đứng giữa thổi còi phụ họa theo nhịp người điều khiển. Mái chèo được làm bằng gỗ nhẹ, dẻo, không thấm nước, bản rộng, mỏng và tròn dần về cán. Mỗi chiếc ghe ngo có những biểu tượng khác nhau, thường là kha la (con cọp), rồng, sư tử, cá poon-co... Trước khi hạ thủy, làm lễ cúng vị thần phù hộ cho ghe.
    Đua ghe ngo là môn thể thao rất hấp dẫn và rất hào hứng. Vào trưa ngày rằm, khi nước bắt đầu dâng lên, người hai bên bờ chật kín, còn ghe xuồng đã sẵn sàng đậu dọc suốt hơn một cây số. Tiếng trống cùng dàn nhạc ngũ âm, tiếng còi nổi lên rộn rã. Khi một hồi còi rú lên - hiệu lệnh xuất phát thì từng cặp ghe đua với trăm đôi tay chèo lực lưỡng rạp người vung chèo đều tăm tắp theo nhịp tu huýt và phèng la đẩy chiếc ghe ngo vút nhanh về đích. Tiếng trống, tiếng loa hòa trong tiếng reo hò, vỗ tay cổ vũ náo động cả mặt sông.
    Chiếc ghe ngo là một sản phẩm văn hóa hết sức độc đáo của đồng bào Khmer Nam bộ, cũng là biểu tượng của sự no ấm, sung túc. Chiếc ghe ngo còn là hình ảnh đại diện cho mỗi phum sóc hoặc cho toàn xã, toàn huyện nên cuộc đua ghe thường diễn ra rất quyết liệt không phải vì giá trị tiền thưởng mà vì danh dự và vinh quang của đơn vị đăng ký tham gia.
    Lễ hội Ook – om – bok mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam bộ. Nó thể hiện được những khát vọng, tâm hồn và tình cảm của con người đối với con người và con người đối với các đấng bề trên. Vì vậy, việc tổ chức lễ hội Ook – om – bok hằng năm không chỉ là việc bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống, giàu tính nhân văn của đồng bào Khmer Nam bộ, mà còn là một sản phẩm du lịch hấp dẫn để thu hút du khách bốn phương.

    Tôn thờ Thần Neak Ta:
    Người Khmer rất mực tôn sùng đạo Phật, nhưng cơ bản vẫn là cư dân nông nghiệp thủ công, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, đất trời nên vẫn không bỏ được tín ngưỡng thần linh (điều này ta cũng dễ nhận thấy trong tín ngưỡng tâm linh của người Kinh). Thần linh gọi chung là Neak Ta, được biểu hiện ra: Neak Ta Meba Sros là thần linh phum sróc; Neak Ta Walt là thần giữ chùa; Neak Ta Ta Chay là thần ao hồ, ngã ba sông; thần Neak Ta ao Bà Om ở Trà Vinh; Neak Ta Sâm rông là thần cây trôm, Neak Ta Đom Chreay là thần cây đa, hoặc như Neak Ta Kra Hamcô (cố đỏ) là thần người thắt cổ tự tử.
    Miếu thờ Neak Ta có loại đơn giản bằng tre có sàn hoặc nền đất dưới tán cây to ở một gốc bãi rộng, cuối cùng ven bưng (bẻeng). Có nhiều miếu xây gạch quy mô trong khuôn viên chùa. Cũng có Neak Ta không có miếu thờ, ai cần cầu khấn gì thì đặt lễ trên gò mà khấn. Miếu thờ Neak Ta thường theo hướng Bắc, biểu hiện tà khí lạnh lẻo.
    Biểu tượng Neak Ta tôn thờ trong miếu thường đặt tượng trưng vài hòn đá to nhỏ, thường là hình bầu dục (đây là tục thờ đá của cư dân nguyên thủy ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Đảo còn rơi rớt lại, trong đó có người Khmer). Với quan niệm đã có một thời kỳ dài lịch sử, đá là công cụ kỳ diệu thay cho đồ dùng bằng đồng, sắt nhưng vẫn không quê sự kỳ diệu thần linh của đá, đá còn là cột nối trời đất. Người Khmer còn dùng đá làm bùa yếm huyệt tám hướng và trung tâm ở mỗi ngôi chùa.
    Mỗi năm một lần vào tháng tư, bắt đầu mùa mưa lũ, người dân trong phạm vi mỗi phum, sróc cúng thấn Neak Ta với ý nghĩa cầu an, cầu cho mưa thuận gió hòa. Cúng Neak Ta ở phum, sróc bằng thịt heo; cúng Neak Ta rạch, bưng, giồng bằng thịt gà, vịt hoặc không bất cứ thời gian nào, gia đình nào gặp chuyện chẳng lành thì sửa lễ cúng Neak Ta ở miếu. Các vị sư sãi bị ốm đau cúng Neak Ta ở miếu trong khuôn viên chùa. Trước đây Neak Ta còn là quan tòa xử kiện việc trong phum, sróc; khi cần có điều thề thốt là hai bên đưa nhau lên miếu cúng Neak Ta cùng đem con gà đang sống đến miếu cắt cổ cho chảy máu rồi thả gà ra, lời thề của hai bên là đúng hay sai tùy thuộc vào việc con gà sống hay chết (đây là nét nguyên thủy sát sinh lấy máu dâng cúng thần cầu nguyện). Đôi khi Neak Ta còn là thần bảo hộ tình yêu của đôi trai gái, thể hiện ở những câu ca:
    “Nếu em còn nhớ anh
    Hãy dâng một cây đèn cầy (nến)
    Cho Neak Ta Ma bras Srok
    Để anh sớm trở về
    Hỡi em yêu
    Để anh sớm trở về!”.

    Tôn thờ Phật:
    Người Khmer không có vị sư nữ vì đồng bào theo Phật giáo Tiểu thừa với câu chuyện tuyên truyền lại: Khi Thích Ca còn sống, ông cho rằng phụ nữ là nguồn gốc của mọi sự rối rắm tội lỗi nên không chấp thuận cho phụ nữ đi tu. Ngài Anna, vị tổ thứ hai nói rằng nước cũng mặn, máu cũng đỏ sau lại không cho tu hành. Thích Ca chấp thuận nhưng yêu cầu khi ông còn sống thì phụ nữ không được đi tu. Từ đó truyền lại, Phật giáo Tiểu thừa với nguyên tắc giữ nguyên triết lý vô thường (vật chất luôn biến đổi) của Thích Ca, chỉ tôn thờ một Đức Phật Thích Ca trên chùa và không có các vị sư nữ lên chùa tu Phật. Có thể tu một ngày, một tháng, một năm rồi quay trở về xây dựng gia đình, cũng có thể tu suốt đời làm sư sãi luôn trên chùa. Nhưng về mặt thờ tự cúng lễ thì toàn dân Khmer, kể cả phụ nữ đều có thể dâng lễ cúng Phật ở nhà, trên chùa.
    Thờ Thích Ca trên chùa gồm có Thích Ca bát thể (Thích Ca ở tám thời điểm) đó là:
    • Thích Ca thành đạo
    • Thích Ca ngồi tọa thiền
    • Thích Ca gắn với vị tổ người Khmer – rắn ngựa
    • Thích Ca cứu độ chúng sinh
    • Thích Ca sơ sinh
    • Thích Ca tu khổ hạnh trên núi tuyết
    • Thích Ca nhập niết bàn
    • Thích Ca đi khất thực
    Từ tám biểu tượng Thích Ca trên đây, mở rộng ra nhiều kích thước to nhỏ nên biểu tượng thờ Phật ở chùa người Khmer cũng rất phong phú (còn Phật giáo Đại thừa thể hiện ở chùa của người Kinh không những thờ Thích Ca mà còn thờ rất nhiều vị bồ tát khác nên điện thờ Phật càng phong phú hơn).
    • Toàn dân Khmer sùng bái đạo Phật nên mọi hoạt động lễ nghi đều trên chùa cũng là lễ nghi của mọi gia đình người Khmer, biểu hiện:
    • Lễ “Phật Đản” ngày 15 tháng 4, mọi nhà trong phum sróc đều tập trung lên chùa dâng cơm sư sãi, tụng kinh mừng Đức Phật ra đời. Đồng bào ở lại suốt đêm trong chùa, sáng hôm sau lại dâng cơm sư sãi rồi mới chấm dứt cuộc lễ.
    • Lễ “Nhập hạ” bắt đầu từ ngày 15 tháng 6, mọi gia đình Khmer dâng thức ăn vật dụng lên chùa, đủ cho sư sãi dùng trong ba tháng hạ. Đến lễ xuất hạ ngày 15 tháng 9, thì suốt đêm 14 và cả ngày 15 tín đồ ở lại chùa làm lễ dâng cơm sư sãi, đọc kinh Phật như một ngày lễ lớn.
    • Lễ “dâng áo cà sa lên sư sãi” kéo dài 29 ngày (từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10), các gia đình hợp lại với nhau, lễ vật được chất đầy kiệu rước lên chùa cúng Phật, hiến dâng các vị sư sãi.
    • Lễ “đặt cơm vắt” kéo dài 15 ngày (từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 8), các gia đình dâng lên chùa gạo nếp, trái cây, bánh men và cơm vắt nắm tròn đựng vào khay mang lên chùa cúng Phật, cầu cho linh hồn những người quá cố được mát mẻ dưới bóng bồ đề.
    Đồng thời nhiều lễ nghi trong cộng đồng phum, sróc của người Khmer đều diễn ra gắn liền với chùa chiền như sau:
    • Lễ Sel – Dolta là lễ cúng tổ tiên.
    • Lễ đón năm mới Chol – chnam – thmay vào tháng 3 lịch của người Khmer (ngày 13 tháng 4 dương lịch). Các tín đồ lên chùa rước lịch Sang krăm (lịch do các nhà sư soạn dùng trong cả năm), diễn ra hội thi đắp núi cát thể hiện núi lúa, các gia đình dâng cơm sư sãi, tắm Phật, tắm sư. Các nàh sư đến tháp cốt trong chùa hoặc đến các nghĩa trang mở lễ cầu siêu Bangskoi cho linh hồn người đã khuất.
    • Lễ hội Ook – om – bok ngày 15 tháng 10 cúng trăng mừng được mùa, các gia đình làm nhiều bánh, trái cây, cốm dẹt cúng trăng, thả đèn cầy trên kênh rạch, trên chùa diễn ra lễ hội thả đèn gió cúng trăng, đạc biệt tổ chức đua ghe ngo trên sông.
    Người Khmer thờ Phật và tổ tiên, có các nghi lễ nông nghiệp như cúng Thần Ruộng, gọi hồn lúa, Thần Mặt Trăng…
    Cả hôn lễ, tang ma cũng đều gắn liền với nhà chùa, gắn liền với các vị sư sãi. Trẻ con cũng học chữ, học làm người tại các trường trên chùa, gắn liền với các vị sư. Có thể nói ở người Khmer đời và đạo gắn liền làm một. Nơi nào có người Khmer nơi đó có chùa “Kon loéngana niêm Khơ mer loeng nương niêm Wat”. Đã bao đời nay, đối với người Khmer mỗi gôi chùa của họ không chỉ là một không gian văn hóa (kiến trúc nghệ thuật, giáo dục, lễ hội) màa mỗi ngôi chùa thông quá các nhà sư được xem như là một sức mạnh tinh thần, một nền tảng đạo đức, một luân lý sống ở thiện làm phước, một thế cân bằng cho mọi kiếp đời về cái chết lý tưởng “mát mẻ dưới bóng bồ đề”. Đối với người Khmer, mỗi ngôi chùa của họ là một không gian tâm linh thiêng liêng thánh thiện, họ bảo vệ ngôi chùa như bảo vệ chính cuộc sống của mình. Người Khmer thường hay nói câu “Mơn kất avây tereksa klang mian dom cayko pres” (có nghĩa là: kể gì, cốt là bảo trì được cái kho tàng quý giá là đạo Phật).

    Chùa và Sư sãi trong quan niệm của người Khmer Nam bộ:
    Chùa Khmer là nơi tôn nghiêm đồng thời là nơi dạy chữ Pali và giáo lý của đạo Phật cho thanh thiếu niên Khmer tu học, để trở thành những người “tốt đời đẹp đạo”, có tri thức và đức hạnh phục vụ cộng đồng xã hội. Chùa Khmer được coi như một thiết chế văn hóa trong phum sóc, là nơi sinh hoạt văn hóa Phật giáo, văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian cho bà con Phật tử vào các dịp lễ, Tết.
    Đại bộ phận người Khmer theo Phật giáo Nam tông, lấy chùa làm nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần và tâm linh. Phật giáo Nam tông từ lâu đã trở thành báu vật tinh thần vô giá của dân tộc Khmer. Chúng ta dễ dàng nhận thấy các giá trị tinh thần, những tinh hoa của đạo Phật luôn gắn chặt với bản sắc văn hóa dân tộc Khmer trong cộng đồng phum sóc. Chùa là sợi dây vô hình nối kết với đồng bào và bổ sung cho nhau trong quá trình tồn tại và phát triển. Trước xu thế tác động của nền văn hóa ngoại lai thời hội nhập, thì chùa là nơi giữ gìn ngôn ngữ, chữ viết, phong tục và lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Khmer.
    Mỗi ngôi chùa Khmer có một sư cả và hai sư phó (cả nhì). Vị sư cả là người tu lâu năm nhất trong chùa (có thể là Hòa thượng, Thượng tọa hay Đại đức). Nếu vị sư cả viên tịch, chuyển sang làm sư cả chùa khác, hoặc hoàn tục thì sẽ tấn phong vị cả nhì lên thay. Việc tấn phong sư cả mới do Ban Quản trị và các nhà sư trong chùa quyết định. Trong trường hợp nội bộ sư sãi trong chùa không nhất trí thì nhờ đến Giáo hội cấp trên thuyết phục hoặc điều động vị sư cả mới, các cấp Giáo hội ít khi ra quyền chỉ định. Hai vị cả nhì có hai chức năng nhiệm vụ khác nhau: Một vị chuyên quản lý nhân sự và chăm lo việc học hành của sư sãi, phân công các vị sư đi làm lễ tại các gia đình Phật tử và tiến hành xử phạt các vị sư không theo quy chế hoặc phạm giới cấm nhẹ mà chưa cần đưa ra hội đồng kỷ luật. Còn vị cả nhì thứ hai có trách nhiệm phân phối tài sản của nhà chùa cho các sư sãi sử dụng, đồng thời trông coi việc trùng tu chùa chiền. Có chùa thì giao một số công việc cho vị Achar (cư sĩ thành viên Ban Quản trị chùa).
    Theo phong tục, thiếu niên Khmer từ 12 tuổi trở lên mới được phép tu học. Có thiếu niên vào chùa tập sự xuất gia vài tháng đến một năm rồi xin về làm ruộng rẫy hoặc đi bộ đội, nhưng cũng có thiếu niên chịu khó tu học cho đến lúc được thọ giới Sa di. Theo giới luật, vị Sa di thọ 10 giới cấm, nếu vị Sa di nào vi phạm một trong 10 thì phải thọ giới trở lại. Vị Sa di còn tuân theo 110 uy nghi, tức cách đi đứng nói năng và ứng xử đúng phong cách người tu hành. Hàng tháng, nhà chùa giao cho vị cả nhì huấn thị hai lần các vị sư trẻ mới tu. Các nhà sư trẻ tu đủ 20 tuổi có thể làm lễ lên bậc Tỳ khưu và tiếp tục thọ 227 giới, gồm 4 nghiêm luật và 13 cấm luật. Nếu vị Tỳ khưu nào vi phạm một trong 4 nghiêm luật thì coi như bị trục xuất khỏi Tăng đoàn và vĩnh viễn không được thọ giới lại để trở thành Tỳ khưu. Còn nếu vị Tỳ khưu vi phạm một trong 13 cấm luật, thì tạm thời cách ly Tăng đoàn, không cho ra khỏi chùa và không được tiếp xúc với tín đồ trong một thời gian.
    Nhà sư Khmer được phép “ăn mặn”, trừ mười loại thịt như: cọp, khỉ, mèo, chó, chồn…, được phép dùng bữa cơm từ lúc sáng sớm đến giờ ngọ, còn từ giữa trưa đến chiều tối chỉ được dùng sữa, bánh ngọt, nước giải khát. Mục đích là để tiết dục, nhà sư nào vi phạm sẽ bị tín đồ coi như con quỷ đội lốt đi tu. Tất cả sư sãi đều đi khất thực. Hàng ngày có sự phân công luân phiên nhau trong chùa đi vào các phum sóc, mỗi nhóm có hai vị sư mang bình bát đến từng hộ, hộ nào đã ăn cơm xong thì khỏi, thức ăn được để trong các ngăn của cà – mên do 1 - 2 thiếu niên mang theo đi cùng nhà sư, giờ khất thực vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Có chùa Khmer tự sản xuất lúa hoặc quyên gạo trong dân thì các sư phân công nhau nấu cơm, còn thức ăn thì người dân trong phum sóc mang đến cúng dường. Tóm lại, cuộc sống của nhà sư do người dân trong phum sóc nuôi dưỡng và gia đình các vị sư trẻ đang tu học cung phụng.
    Người Khmer quan niệm thanh niên tu học đến bậc Sa di là để đền ơn cha, đến bậc Tỳ khưu là để đền ơn mẹ. Có người cho là đi tu để được học hành nhiều hơn, nâng cao thêm trình độ. Còn trong quan niệm tôn giáo cho là người đi tu để tu tâm, dưỡng tánh, tích thiện và cao hơn là đạt giải thoát, Niết bàn. Dù quan niệm nào đi nữa, cộng đồng người Khmer ở nông thôn vẫn thích cho con trai mình đi tu một thời gian, do mấy nguyên nhân: Các lễ hội và vui chơi giải trí đều được tổ chức tại chùa, nhà sư là biểu tượng để các em chiêm ngưỡng, là một trong ba ngôi báu thiêng liêng mà bà con luôn tôn kính. Hơn nữa, thanh niên Khmer đi tu đều được học cả hai thứ chữ (Khmer-Việt). Ngoài chữ Pali và Vini, có chùa còn tạo điều kiện cho các nhà sư trẻ học bổ túc văn hóa, ngoại ngữ, tin học, hội họa, điêu khắc gỗ, thuốc Nam… Sư sãi Khmer học chữ Pali là để nghiên cứu kinh luật của đạo Phật.
    Việc tu hành của các nhà sư trẻ không bắt buộc về thời gian, vị nào muốn tu bao lâu cũng được, trừ ba tháng nhập hạ (từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 hàng năm) không được vào tu hoặc hoàn tục. Thường thì các nhà sư trẻ phải tu từ ba năm trở lên mới học thuộc lòng hết những bài kinh Phật thông dụng. Cũng với thời gian này thì các nhà sư trẻ mới thạo cung cách của người tu hành: cách ăn, nói, đi, đứng, nằm, ngồi, khi tiếp xúc với đồng bào Phật tử trong phum sóc. Cộng đồng người Khmer tin tưởng rằng, sau một thời gian tu học tại chùa, các thanh thiếu niên sẽ được trang bị một kiến thức và nền tảng đạo đức căn bản để sống tốt hơn.

    Đời sống văn nghệ:
    Ca hát dân gian trong lễ cưới của người Khmer Nam bộ:
    Người Khmer Nam Bộ rất xem trọng ca hát. Trong lễ cưới (pithi Apea Pipea), họ có những bài hát riêng. Những bài hát này được phổ biến tron dân gian. Nó vừa diễn tả vừa ca ngợi tình cảm con người trong hôn nhân, những cuộc hôn nhân tốt đẹp, là kết quả của tình yêu đôi lứa.
    Việc tổ chức hát dân gian trong lễ cưới được tiến hành qua ba giai đoạn: Vào lễ, làm lễ và chung giường. Các nghi thức lễ tiết đều mang tính nghệ thuật khá cao.
    Trước tiên là vào lễ: Trước khi tiến hành lễ cưới, người ta tiến hành các lễ thăm hỏi, xin quyết định ngày cưới.
    Đến ngày cưới, bên nhà trai đem lễ vật qua bên nhà gái. Đoàn đi rất đông, có dàn nhạc đi theo. Như đã quy định, nhà gái hôm ấy rào kín cổng, ý nói lên rằng bên nhà gái có cô dâu còn trinh tiết. Lúc đoàn nhà trai vừa tới cổng. Hai nhân vật đại diện cho nhà trai và nhà gái diễn cảnh xin được phép mở cửa rào. Nhà trai bắt đầu hát mở lời xa, gần, nào là chuyện xin đất làm nhà, nào là chuyện xin múc nước giếng... để tìm cớ xin vào nhà. Nhà gái vẫn khăng khăng từ chối. Gặp cảnh này, nhà trai bèn cử ông Maha rút dao ra múa điệu “múa mở rào” (Rom bơc-kơ-ri-bong) trông rất đẹp mắt. Nhà gái thấy phục tài mới mở cửa rào ra cho nhà trai vào.
    Lễ cưới bắt đầu nhộn nhịp. Giàn nhạc trỗi lên, những người đến dự cưới cùng hát:
    “Người ta nói ông vua
    Không bao giờ đi bộ
    Khi thì vua cưỡi ngựa
    Khi thì vua cưỡi voi
    Phải có quan theo hầu
    Đằng sau rồi đằng trước
    Nào khiêng, nào đưa rước
    Rằng hết sức tưng bừng
    Sấm vang nghe đùng đùng
    Như nổi lên hát múa
    Cho tới khi vua ng
    Ới nàng theo hầu ơi”.
    Lời hát vui đã thúc giục mẹ cô dâu cùng cô con gái (nếu nhà không có con gái thì con trai thay thế) ra cửa đón nhà trai, mời nhà trai vào. Tất cả ổn định, Chú rể được đưa đi vái nhà ông Tà, xin ông Tà nhận chú rể là thành viên mới của phum sróc. Đoạn, tới “lễ cắt tóc”. Lễ này cũng diễn ra trong không gian ắp đầy âm thanh đầm ấm, thiết tha:
    “Bởi vì em yêu anh
    Nên anh yêu em mãi
    Muốn tình yêu chung thủy
    Em cắt tóc tặng anh
    Hỡi em yêu hiền lành
    Mái tóc mềm đen nhánh
    Anh mong điều may mắn
    Trong chiếc kéo trên khay
    Em hãy ngồi xuống đây
    Dưới tàn cô so đũa
    Mái tóc em buông xõa
    Thay lời em yêu anh”.
    (Bài Cắt tóc)
    Vào đêm đám cưới có ông lục tụng kinh, chúc phúc cho đôi trai gái. Cô dâu ngồi đối diện với ông lục.
    Chú rể ngồi bên trái thầy Achar. Cô bác họ hàng ngồi bên cạnh gợi lên cảnh gia đình đầm ấm bên nhau. Sau khi ông lục tụng kinh xong, chủ nhà mời khách ăn uống, chú rể dâng bánh trái cho cha mẹ cô dâu để tỏ lòng nhớ ơn người đã sinh thành ra vợ của mình.
    Đám cưới mở ra bằng “lễ cột tay” với hình ảnh chỉ hồng cột tay cô dâu chú rể. Buổi lễ được điểm xuyết bằng những âm thanh, tiết tấu và giai điệu du dương của bài hát “lễ cột tay”.
    Nhiều người đến chúc phúc, bài hát lại càng tha thiết với những lời hát cứ được lặp đi lặp lại:
    “Loại chim sáo thích ở rừng
    Vui hát tưng bừng khi đậu cành cây
    Mà cũng thích đó thích đây
    Nhưng không thèm cám gạo xay sẵn rồi
    Để anh đặt bẫy gài mồi
    Ngay dưới tổ sáo, em ơi hãy chờ”.
    Sau lễ cột tay, người ta cho đôi vợ chồng vào buồng tân hôn. Vợ đi trước, chồng đi sau nắm vạt áo của vợ, y như hoàng tử Thông nắm vạt áo công chúa Rắn đi xuống thủy cung trong truyền thuyết của người Khmer.
    Xong thủ tục trên, đôi trai gái thay y phục, ra ngoài chào đón khách.
    Sau đó, đến lễ “Cuốn chiếu”. Lễ này do ông Maha thực hiện. Đôi chiếu được người nhà trai mang đi tới, đi lui nhiều lượt, rồi mới trải ra. Ông Maha múa, miệng luôn hát “Ai mua chiếu không?”. Không có tiếng trả lời. Buổi lễ lắng lại, ông Maha lại nói:"Ai chuộc chiếu này sẽ có uy thế lớn và sẽ giàu có, đông con”. Nghe tới câu này, cặp mắt chú rể sáng lên, vội chạy đến ông Maha xin chuộc chiếu. Thấy cảnh đó, mọi người bèn đến vây quanh, hoan hô chú rể. Họ không tiếc lời chúc tụng vì chú rể đã có suy nghĩ và việc làm đúng. Khi chú rể chuộc được chiếu, người sinh thành cô dâu mời hai người đàn bà có đạo đức, gia đình khá giả, hạnh phúc vào trải chiếu cưới.
    Góp vui trong lễ cuốn chiếu, bà con lối xóm và họ hàng vừa nhập tiệc vui vẻ vừa tham gia văn nghệ qua những bài hát đối đáp (Ayay) nam nữ, giúp vui.
    Suốt trong lễ cưới, không khí lúc nào cũng sôi nổi, rộn ràng, song cũng không kém phần thân thiết, ấm áp. Những bài ca dân gian nói về tình yêu chân thật, thiết tha làm lòng người không khỏi bâng khuâng, xao xuyến. Khi cuộc vui sắp tàn, người ta hát bài “Tiễn khách ra về”. Bài ca có nội dung như sau:
    “Ôi, những người lớn tuổi trong làng ta
    Đã có mặt trong nhà phía sau rồi phía trước
    Các ông đã ban cho ta lời chúc phúc
    Mọi việc trên đời được suôn sẻ ấm êm
    Anh đã cắt rau và buộc lại, em ơi
    Rau anh đã cắt rồi buộc lại
    Hãy tha thứ cho những gì còn non dại
    Như cắt rồi buộc lại thì mọi việc sẽ xong”.
    Sau cùng là “lễ chung giường”. Lễ diễn ra vào buổi tối. Đôi tân hôn chia nhau các thức ăn đã cúng tổ tiên; đút chuối, chia nước dừa cho nhau, vợ vào trước, chồng theo sau. Sau khi dặn dò cách nằm ngủ thể hiện sự tôn trọng nhau, hai bà bước ra ngoài.
    Lễ cưới đã xong. Lời ca điệu múa cũng khép lại.
    Ngày nay, vì nhiều lý do, lễ cưới của người Khmer Nam Bộ đã được giản lược khá nhiều. Thay vì tổ chức ba ngày như trước kia, người ta chỉ tổ chức trong vòng có một ngày và các lễ tiết không cần thiết cũng được bỏ đi. May mắn làm sao, một số người theo truyền thống vẫn giữ được nếp xưa. Trong lễ cưới, âm điệu thiết tha của những bài hát cưới vẫn vang lên đầm ấm, tha thiết, ngọt ngào.

    Văn học và nghệ thuật:
    Người Khmer có chữ viết riêng (chữ khoa đầu) ghi chép lại một nền văn học khá phong phú của dân tộc mình trên lá buông gọi là Xátra lưu giữ trong các ngôi chùa, bao gồm:
    Truyện thần thoại giải thích về sự hình thành vũ trụ, các hiện tượng mặt trăng, mặt trời, nhật thực, nguyệt thực, mưa gió, sấm sét… Những truyện thần thoại có pha trộn nhiều mô – típ thần thoại Ấn Độ, nhưng vẫn mang nặng yếu tố bản địa với cảnh quan sông nước, kênh, rạch, núi non, ao hồ ở Nam bộ như núi Bà Đen (Tây Ninh), ao Bà Om (Trà Vinh).
    Truyện cổ tích có nhiều chuyện gần gũi với truyện cổ tích của người Kinh như: Chao Sanh Chao Thông (Thạch Sanh – Lý Thông), truyện Niêng Môrơn đe meađa (Cô gái mồ côi mẹ, giống Tấm Cám), truyện Chao sarôtôp chek (chàng Khố Chuối, giống truyện Trần Minh). Truyện Cối xay thần, Chàng Cá lóc phản ánh sự đấu tranh giữa các nhân vật tốt - xấu, thiện – ác…
    Truyện ngụ ngôn như các truyện Sâu quên bưng, Bướm và Sâu, Điếc bảy đời… nhắc nhở về những lối sống “thành bướm đừng quên sâu”, “chưa nghe rõ đã nhíu lông mày". Truyện Thỏ xử kiện phản ánh khát khao công lý, trí tuệ thông minh đấu tranh cho lẽ phải ở trên đời…
    Truyện cười như tập truyện Th Mênh Chey - một truyện trào lộng phong phú giống như truyện Trạng Quỳnh của người Kinh. Nhân vật chính Th Mênh Chey là một người nông dân mồ côi, liên tiếp tạo ra những tình huống gây cười, nhạo báng sự độc ác ngu si của bọn quan lại phong kiến Khmer.
    Văn học dân gian truyền miệng ở người Khmer vô cùng phong phú, đa dạng. Gắn liền với văn học Khmer có kho tàng nghệ thuật sân khấu rất phong phú. Như loại hình sâu khấu Dù kê - một loại vũ kịch ca nhạc, diễn viên vừa theo nhịp vỗ trống Dù kê của dàn nhạc, vừa đi vừa múa hát về một sự tích hay cốt truyện nào đó. Loại hình sân khấu Rô băm còn gọi là Rôm yak, một loại vũ kịch cổ điển, các diễn viên lên sâu khấu múa hát, đối thoại về một vở diễn nào đó, nội dung kể về anh hùng cứu người bị nạn, về sự đấu tranh diệt ác tích thiện…
    Người Khmer có một nền ca nhạc rất phong phú. Nhạc cụ gồm các loại nhị, đàn, đàn thuyền (rô néat), sáo gỗ (xralay), trống vỗ (xomphô), trống cái (xko thum); đặc biệt là dàn nhạc Pinh Piết gồm hai dàn chiêng (kôông thum) 18 cái, âm thanh từ rất trầm đến cao vút. Âm nhạc của người Khmer bao giờ cũng nổi đình đám khi hòa tấu trong các dịp lễ hội, đám cưới, đám cúng Phật, cúng thần. Âm nhạc khơi nguồn cho ca hát. Người Khmer có nhiều điệu: hát ru con, hát trong lao động, hát huê tình, hát lễ nghi, hát diễn truyện thơ (Chum riên chàpây), hát đối đáp (aday)…
    Không một người Khmer nào không biết vài điệu múa, người Khmer thường nói là đi xem múa. Múa Lăm vông khoan thai; múa kiếm (Răm khách) chậm rãi; múa Răm saravan và Lăm lêu sôi động, nhanh nhẹn; cùng với các điệu múa ném nhung, múa trống (xè dăm), múa chim công (Răm ca ngok), múa gáo dừa (Răm ta lok). Múa được diễn ra ở hầu khắp các cuộc vui.
    Thật vậy, người Khmer có một kho tàng văn nghệ phong phú, có truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười…, có một nền sâu khấu truyền thống: Dù kê, Dì kê…, một nền âm nhạc có nguồn gốc Ấn Độ và Đông Nam Á. Nghệ thuật kiến trúc và điệu khắc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc của người Khmer.

    Tài liệu tham khảo:
    • Giáo trình Dân Tộc học đại cương – Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo Dục, tháng 10/2007.
    • Nhận diện Văn hóa các Dân tộc Thiểu số Việt Nam - Nguyễn Đăng Duy, Nhà xuất bản Văn Hóa Dân tộc, ngày 03/06/2004.
    • Việt Nam Văn hóa và Du lịch – Trần Mạnh Thường, Nhà xuất bản Thông Tấn, ngày 27/10/2004.












  2. #2
    QUOTE(hachai333 @ 12/02/2011 - 05:49 PM) <{POST_SNAPBACK}>
    Tóm Tắt
    Quá trình hình thành
    Những nét văn hóa đặc sắc của người Khmer
    Đời sống vật chất
    Văn hóa sản xuất
    Nếp ăn
    Trang phục
    Nếp ở
    Phương tiện vận chuyển
    Văn hóa tinh thần
    Văn hóa tổ chức đời sống
    Hôn nhân
    Tang ma
    Đời sống tín ngưỡng
    Các lễ hội truyền thống của người Khmer
    Lễ hội Sel – Dolta
    Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ
    Lễ hội Ook – om – bok
    Lễ hội đua ghe ngo
    Tôn thờ Thần Neak Ta
    Tôn thờ Phật
    Chùa và Sư sãi trong quan niệm của người Khmer Nam bộ
    Đời sống văn nghệ
    Ca hát dân gian trong lễ cưới của người Khmer Nam bộ
    Văn học và nghệ thuật
    Tài liệu tham khảo
    26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif 26.gif



    Quá trình hình thành:
    Nước Việt Nam là đất nước có hơn 54 dân tộc. Tất cả đều tin vào truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, nên luôn xem nhau như anh em một nhà, vì đều là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
    Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc đều có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh xã hội, chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước.
    Trong quá trình chinh phục thiên nhiên tùy theo điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, để tồn tại và phát triển, mọi dân tộc đều có những sáng tạo riêng để tìm ra những phương thức sống thích hợp nhất.
    Ở vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên… phương thức canh tác của đồng bào chủ yếu là phát nương làm rẫy… với vùng núi hoang sơ, phuơng thức sản xuất lạc hậu, là mảnh đất “màu mỡ” cho sự phát sinh, phát triển các nghi lễ đầy huyền bí. Nơi bắt nguồn của những huyền thoại, của những sử thi, trường ca với những nhạc cụ thô sơ, đàn đá, cồng chiêng, quê hương của rượu cần, nhà sàn…
    Bên cạnh là vùng đồng bằng và trung du, các dân tộc chủ yếu làm lúa nước, dựng nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, là cây đa, giếng nước… Nghề nông, làng xóm là nguồn cảm hứng của những lành điệu dân ca, hát ghẹo, ví dặm (Bắc bộ); những khúc ca cải lương, bài chòi, hát bội…(Nam, Trung bộ). Trong những dân tộc sống quay quần trên đất nước Việt Nam thì người Khmer ở Nam bộ đã đóng góp một phần vào sự phát triển chung của dân tộc.
    Những nét văn hóa đặc sắc của người Khmer:
    Người Khmer có từ sau khi Chân Lạp chiếm Phù Nam cho đến thế kỷ XV và người Khmer di dân từ nhiều vùng đất trên đất nước Campuchia theo sông Cửu Long về vùng đất Nam bộ để tránh họa diệt tộc của vua chúa cầm quyền lúc đó và chiến tranh xâm lược của Xiêm La. Dân tộc Khmer ở nước ta có khoảng 1 triệu người, họ sống phần lớn ở những vùng đất cao, chủ yếu là tập trung ở các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang…
    Họ còn có tên khác như: Việt gốc Miên, Khmer Crôm. Trước thế kỷ XVII, người Khmer giữ vai trò chủ thể ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ngôn ngữ Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer. Họ có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hóa, một lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh (Việt), Hoa trong các phum, sóc…
    Đời sống vật chất:
    Văn hóa sản xuất:
    Người Khmer từ rất lâu đời đã là cư dân thành thạo canh tác nông nghiệp lúa nước mùa vụ. Bộ nông cụ của họ khá hoàn thiện và hiệu quả, thích ứng với các điều kiện sinh thái đồng bằng Nam bộ, trong đó có cái “phảng” chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cái “cù nèo” dùng để vơ cỏ, cây “nọc cấy” dấu vết của cây gậy chọc lỗ tra hạt xưa, tạo ra lỗ để cắm cây mạ xuống những chân ruộng nước, đất cứng và cái “vòng gặt” để gặt lúa còn gọi là (cần điêu)… Những dụng cụ nông nghiệp thủ công trên được con người sử dụng trong một nền công nghiệp lúa nước, giỏi làm thủy lợi và dùng phân bón.
    Cùng với lúa nước, người Khmer còn phổ biến trồng các loại như: đậu, ngô, khoai, rau, nứa, hành, ngò, dưa hấu và các loại cây ăn quả như nhãn, cam, bưởi…
    Người Khmer còn có nghề đánh cá, dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm đồ gốm..
    Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm trong sân vườn, người Khmer còn chăn nuôi vịt quanh năm trong các lò vịt, nuôi hàng ngàn con vịt tàu để lấy trứng và bán thịt. Vùng có nhiều đồng cỏ thì phổ biến nuôi trâu, bò để bán.
    Vùng đồng bằng Nam bộ đầy sông, rạch, biển cả nên người Khmer cũng thành thạo đánh cá trên sông, biển bằng tàu, thuyền giăng lưới, quăng chài, lờ, đó, đơm, xà neng…
    Người Khmer cũng thành thạo nghề đan mây tre, tạo thành những đồ đựng, đồ chứa như: các loại giỏ xách, quả, làn đựng hoa trái, trầu thuốc…; đan các dụng cụ đánh bắt cá như: lờ, đó; cùng với nghề đan dệt thảm chiếu trơn, chiếu hoa. Đặt biệt là các hàng dệt vải, lụa, chăn, khăn tắm, khăn đội đầu… qua bàn tay người phụ nữ Khmer rất được thị trường ưa chuộng. Họ còn có nghề nhuộm (mặc mưa). Trái mặc mưa lúc mới già đem giã nhỏ, quấy với nước lạnh để nhuộm hàng tơ lụa rất tốt, càng ra nắng lại càng ra màu đen bóng.
    Người Khmer có truyền thống làm gốm từ lâu đời. Trước đây làm gốm chưa có bàn xoay, nay đã biết làm gốm có bàn xoay, phổ biến là các loại nồi (cà om), các loại cà rằm – một loại bếp lò có thể đun nấu trên sàn hoặc trên thuyền. Nghề làm thợ mộc, thợ nề, làm đường thốt nốt cũng thường thấy ở các phum, sróc người Khmer cùng với nghề thợ bạc, làm các ô trầu, hộp thuốc, bình vôi, xường nĩa, đồ trang sức cũng khá phát triển.
    Nói tóm lại, văn hóa sản xuất hay văn hóa mưu sinh ở dân tộc Khmer cơ bản là nghề canh tác nông nghiệp lúa nước cùng các nghề phụ như chăn nuôi, trồng màu, làm các nghề thủ công phục vụ đời sống của cư dân nông nghiệp.

    Nếp ăn:
    Bữa ăn của người Khmer cũng gọi là cơm như người Kinh, cơm gạo tẻ là tố chất cơ bản nuôi sống người Khmer. Người Khmer ăn cơm tẻ và cơm nếp, họ cũng cấy được nhiều loại lúa nếp để chế biến các món ăn từ gạo nếp như: xôi, bánh tét, bánh chưng, bánh chuối, bánh ú, làm rượu cất từ gạo nếp rồi chưng lại uống – một món rượu nổi tiếng của người Khmer. Trong bữa nhậu người Khmer thường dùng cháo như cháo vịt, cháo cá. Người Khmer có món ăn đặc sản là bún nước lèo không thể thiếu được vào ngày mồng một tết ở chùa và trong mỗi gia đình. Bún dẻo sợi nhỏ, khô, chan ăn với nước lèo cá quả tán nhỏ cùng các loại gia vị, rau hành ăn không chán. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá, ếch, nhái, rau… được bắt ở kênh rạch, sông ngòi. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, luộc, kho với nước cốt dừa. Ngoài ra, họ thường phơi các loại cá ăn dần và chế thành nhiều loại mắm từ cá. Họ chế biến nhiều loại mắm, nổi tiếng nhất là mắm “Bhóc” còn gọi là nrahóc làm từ cá sọc, cá trê, có thể ăn kèm với cơm, bún, cho vào canh, làm nước lèo chan bún. Ngoài mắm bhóc người Khmer còn có các loại mắm khác như: mắm ơn pử làm bằng tôm tép, mắm pô inh làm từ cá sặc… Gia vị được sử dụng và ưa thích nhất của họ là từ quả me hay mà; các vị cay, tiêu, ớt, tỏi, sả, càri… cũng được ưa thích.

    Trang phục:
    Về y phục, trước đây nam nữ đều mặc “xà rông” bằng lụa tơ tằm tự dệt. Trang phục ở người Khmer ngày nay giống người Kinh ở các địa phương. Thanh niên nam nữ trong ngày thường cũng như trong lễ hội thích mặc quần nâu, áo sơ mi. Những bộ trang phục truyền thống chỉ còn thấy ở thanh niên khi ở nhà: quần xà rông dệt bằng tơ với áo mỏng sát nguời có màu sắc sặc sỡ, bộ quần áo bà ba đen, trên đầu đội khăn rằn. Người già, người đứng tuổi mặc áo bà ba đen, nam giới nhà khá giả mặc quần áo bằng lụa trắng với chiếc khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt ngang vai.
    Trong tổ chức hôn lễ cả cô dâu và chú rễ đều mặc trang phục truyền thống. Chú rễ mặc xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên trái vai quàng khăn dài trắng (Kăl xinh) và tay cầm con dao cưới (Kăm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu (đây là tàn dư của thời tranh cướp vợ trước đây). Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy) màu tím hay hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn rua thêu rất đẹp và đội mũ cưới truyền thống - kiểu mũ chụp từ đầu tỏa xuống hay mang tai, trên mũ thêu rua đẹp, đỉnh mũ có nhiều hạt ngọc bích. Áo dài (Wên) của phụ nữ Khmer gần giống như áo dài của phụ nữ Chàm: dài quá đầu gối, chỉ xẻ tà một ít ở gấu áo, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu, ống tay áo hẹp, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải khác màu kéo dài từ nách đến gấu áo. Trong các dịp lễ hội, phụ nữ lớn tuổi cũng thường mặc áo dài màu đen, màu nâu mà người Kinh gọi là áo tầm vông hay áo cổ bà lai, quanh cổ quấn khăn trắng vắt qua vai thành hai múi.

    Nếp ở:
    Trước đây các phum, sróc của người Khmer thường tọa lạc trên suờn đồi (vùng Kiên Giang, An Giang) hoặc trên những giồng cao (ở vùng đất trũng). Gần đây do áp lực kinh tế thị trường và dân số, các phum, sróc của người Khmer đã ở dọc hai bên trục quốc lộ, dọc các dòng sông hay kênh rạch.
    Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong nhà trệt, mái lá, vách đơn giản. Họ cũng ở nhà sàn như trước đây nhưng hiện nay còn rất ít trong các phum, sróc dọc biên giới với Campuchia thuộc tỉnh Kiên Giang, hoặc ở nhà hội hợp (nhà sa la) – nhà ở của các vị sư trong các chùa ở vùng này. Ngày nay thì người Khmer hầu hết là ở nhà nền đất như người Kinh. Nhà nền đất có thể chia làm hai dạng:
    Dạng nhà nghèo, nhà cỡ nhỏ chỉ có hai mái, mái trước ngắn, mái sau dài, cột kèo đều bằng gỗ nhỏ, bằng tre, mây buộc, mái lợp lá dừa hoặc lá thốt nốt, xung quanh che phên lá đơn giản.
    Còn nhà cỡ lớn thường gắn với tầng lớp trung phú nông. Nhà bốn mái gồm: hai mái chính, hai mái phụ đầu hồi. Kết cấu bộ khung nhà đều bằng gỗ, các cột xà ngang, xà dọc, kèo dâm, kèo trích gắn kết với nhau bằng những lỗ đục mộng ngoàm. Xung quanh nhà thường có ván gỗ hoặc xây tường che khuất.
    Người Khmer thường bố trí nhà làm đôi theo chiều dọc bởi những vách ngăn phía ngoài, gian giữa đặt bàn ghế tíêp khách và kê sát vách ngăn một tủ kính, trong bày những chiếc gối thêu, chăn màn vừa là để trang trí vừa là để dùng khi có khách. Hai bên chổ tiếp khách đặt giường ngủ của đàn ông. Từ chỗ tiếp khách mở hai cửa vào phần nhà bên trong, nơi đó là buồng ngủ của đàn bà, con gái. Từ vách sau nhà cò cửa thông ra sân sau khu vực hậu cần của gia đình.
    Cách bố trí nhà như vậy là do người Khmer quan niệm: mọi tín ngưỡng thờ cúng đều được thực hiện ở trên chùa. Khi cần cúng tổ tiên, khi có lễ cưới, lễ tang thì bài ra cúng ở giữa nhà.
    Kiến trúc nhà của người Khmer có sự tương phản rõ rệt giữa nhà của người dân trong phum, sróc với chùa. Ngôi nhà ở của người dân tre lá đơn sơ bao nhiêu (của tầng lớp bần cố nông) thì ngôi chùa lộng lẫy bấy nhiêu. Đến vùng người Khmer cư trú, trông từ xa thấy một không gian cây cổ thụ xanh tốt, trong đó kiến trúc gạch ngói, đó là một ngôi chùa. Dựng chùa, nuôi chùa là hạnh phúc lớn của toàn dân Khmer. Người Khmer dành hết mọi nguồn lực, tài nghệ và vật liệu xây dựng tốt nhất cho ngôi chùa. Cao và nổi bật lên trung tâm ngôi chùa Khmer là chính điện được tổ hợp giữa kíên trúc gỗ, gạch đá, ngói thành ngôi nhà cao to 5 - 7 gian, chạy dọc theo hướng đông – tây với hàng hiên rộng bao quanh, nóc nhọn vút như lưỡi búa chổng ngược lên nhau, trên nóc cột đỉnh chỏm tháp vá các đầu mái vút lên như những nóc dừa. Trong chùa bàn thờ Phật bao giờ cũng đặt ở đầu nhà phía Tây, Phật nhìn về phía Đông phù hộ chúng sinh. Có những ngôi chùa hai bên còn mở một hoặc hai gian thành ra ngôi chùa bốn mặt, mở ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Mỗi ngôi chùa Khmer là một bảo tàng về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tượng pháp bích họa trang trí trên trần, trên cửa, cột, hàng hiên, bệ tượng, thân tượng…với những mô-típ hoa văn rồng rắn, hoa lá, chim muông, thú vật xung quanh những sự tích về Phật.

    Phương tiện vận chuyển:
    Người Khmer là cư dân sống ở đồng bằng sông nước, làm nghề canh tác nông nghiệp lúa nước nên từ lâu đã hình thành phương tiện vận chuyển bằng xe với sức kéo của trâu, bò. Những cỗ xe đại, thùng gỗ, bánh nan hoa,vành gỗ bọc sắt, ngày nay là bánh xe hơi hai trâu hoặc bò kéo đã giúp ngưới Khmer vận chuyển phân bón ra đồng ruộng, nông lâm sản về nhà rất nhanh chóng, hiệu quả. Mặc khác trên đồng đất Nam bộ có nhiều sông ngòi, kênh rạch nên vận chuyển bằng đường thủy cũng rất phát triển. Xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền tắc rán hoặc thuyền đuôi tôm gắn máy… là phương tiện rất phổ biến đối với người Khmer. Đặc biệt là chiếc “ghe ngo” dài 30m, lòng hẹp 2m, bằng gỗ sao, có từ 30 – 40 tay chèo. Mũi và hai bên thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước… Ghe ngo được dùng vào lễ hội Chào Mặt Trăng gọi là lễ Ook – om – bok (tháng 10 âm lịch), mừng được mùa cảm ơn nước. Khi đua, hai hàng từ 20 – 40 người chèo hai bên nhịp nhàng theo tiếng chiêng lệnh và người bắt nhịp, thuyền lao ngược dòng sông với tốc độ từ 30 – 40 km/h.
    Tương truyền, ghe ngo là chiếc răng của Phật nên ghe ngo gắn liền với nhà chùa, nhà chùa bỏ tiền ra đóng ghe, chi phí cho các cuộc luyện tập đua ghe, ngày thường ghe ngo được bảo quản trong chùa Khmer .
    Ngày nay, cũng như nhiều vùng Nam bộ, ở vùng đồng bào Khmer cư trú đã phổ biến những phương tiện hiện đại gắn với đường đá, đường nhựa như ôtô, xe gắn máy, hay những thuyền gắn máy đi lại trên sông nước, kênh rạch, trên sông tạo nên sự giao lưu về kinh tế, văn hóa liên thông giữa các phum sróc và các thành phố người Kinh.

    Văn hóa tinh thần:
    Văn hóa tổ chức đời sống:
    Xã hội Khmer còn tồn tại những tàn dư của xã hội Mẫu hệ. Người Khmer có nhiều họ khác nhau. Những họ do triều đình nhà Nguyễn đặt là: Danh, Kim, Kiên, Sơn, Thạch; những họ tiếp thu từ người Việt, người Hoa đó là: Trần, Nguyễn, Dương…; lại có những họ thuần Khmer như: U, Khan, Khum… Ở người Khmer, phổ biến là gia đình nhỏ phụ quyền. Trong gia đình nhỏ phụ quyền ấy có khi có 4 thế hệ ông, cha, con, cháu cùng chung sống dưới một mái nhà. Những người đàn ông đảm đương những công việc nặng nhọc như: cày bừa, làm nhà, sửa đường. Người ông hay người cha thay mặt gia đình giao dịch đối ngoại, phân công lao động trong gia đình. Tuy vậy, gia đình người Khmer vẫn còn đậm nét chế độ mẫu hệ, người mẹ vẫn đóng vai trò nhất định trong đời sống gia đình, nắm giữ tay hòm chìa khóa, cùng với người chồng bàn bạc chi tiêu trong gia đình, quyết định việc lễ lạt, cúng tế trong gia đình và trên chùa, quyết định cả việc cho những con trai lên chùa tu. Trong việc sở hữu và kế thừa tài sản không phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, ngoài tài sản chung sau khi kết hôn vợ và chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng về đất đai và các tài sản khác do cha mẹ cho. Khi li dị, tài sản của ai người đó sở hữu, tài sản chung thì chia đều. Tất cả con trai và con gái, con trưởng và con thứ đều được thừa kế tài sản như nhau.
    Người Khmer cố kết tông tộc, dòng họ để phân biệt huyết thống khi diễn ra quan hệ hôn nhân. Mỗi dòng họ thờ một Arak (vị tổ) của dòng họ hoặc ngược lại của một Arak nhiều dòng họ. Cố kết dòng họ ở người Khmer không mạnh bằng cố kết giữa gia đình và nhà chùa.
    Người Khmer tổ chức xã hội theo phum, sróc (người Kinh đọc thành sóc). Phum là đơn vị cư trú có thể chỉ có một dòng họ, gồm một số gia đình con cháu, có thể nhiều gia đình của nhiều dòng họ. Phum như làng, ấp của người Kinh. Còn Sróc gồm nhiều phum tương tự như xã, tổng có khi là cả một huyện ở người Kinh. Đứng đầu phum có một Mê phum, đứng đầu một sróc có Mê sróc điều hành mọi mặt đời sống trong phum, sróc. Ngày nay gọi là ấp trưởng hay xã trưởng.
    Đặc biệt ở xã hội người Khmer đời và đạo Phật Tiểu thừa gắn liền làm một. Toàn dân Khmer theo đạo Phật, mỗi sróc ít nhất cũng có một ngôi chùa. Các vị sư sãi tu hành trên chùa về thực chất không nắm một chức vị nào trong chính quyền nhưng lại có địa vị rất quan trọng trong mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội ở người Khmer. Mọi việc như: hôn lễ, tang lễ, lễ tết, lễ hội, học tập của con cháu, chuẩn mực đời sống đạo đức trong phum, sróc người Khmer phụ thuộc vào quyết định của các sư sãi.

    Hôn nhân:
    Nguời Khmer vẫn tồn ịai hôn nhân con cô con cậu, con dì con già. Thanh niên nam nữ tự do lựa chọn bạn đời, nhưng thường là do cha mẹ hai bên sắp đặt. Người con trai cư trú bên nhà vợ, làm việc lại co nhà vợ để bù đắp lại tiền của, phí tổn mà nhà gái đã bỏ ra để tổ chức hôn lễ bên nhà gái. Trước đây, người Khmer tồn tại một tục lệ người con gái đi hỏi chồng, cho nên ngày nay hôn lễ vẫn diễn ra bên nhà gái. Thời gian người con trai ở rễ không nhất định, thường khi đã có con thì vợ chồng tách ra ở riêng.
    Hôn lễ đều được diễn ra 3 bước: Bà mối chạm ngõ, lễ dạm ngõ, những lễ này nhà trai phải mang sang nhà gái. Sau đó là lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, nhà gái chụi mọi phí tổn cho lễ cưới. Lễ cưới diễn ra có vai trò của nhà sư tham dự. Người Khmer làm các loại bánh: bánh gừng (mum khahây), bánh nặn hình cánh quạt (mum meang nok som bok chop), bánh ổ chim được xếp đặt lên khay là đặt trước bàn thờ Phật trong nhà. Chú rễ, cô dâu trong trang phục truyền thống lộng lẫy, quỳ trên gối vuông, khom lưng chắp tay vái nhà sư đang tụng kinh cầu phúc cho họ. Sau đó, nhà sư tiến hành lễ cắt bông cau (cau còn trong bẹ) tượng trưng cho sự trong trắng hạnh phúc lứa đôi.Trong lễ cưới, người Khmer còn có tục chà răng (đánh răng tượng trưng) liên quan đến việc tu Phật. Đó là do từ xa xưa truyền lại rằng: Người Khmer mang dòng giống của loài rắn Naga. Rắn thừơng phun nọc độc nên khi cưới nhau, sinh con cái phải chà răng khử độc. Nếu chú rễ đã qua thời gian tu hành thì có nghĩa là đã chà răng, nên chỉ tiến hành lễ chà răng cho cô dâu, còn nếu như chưa thì cả hai cùng tiến hành lễ này.

    Tang ma:
    Toàn dân Khmer theo đạo Phật Tiểu thừa, tiếp thu quan niệm sinh tử của đạo Bà La Môn giáo. Con người Atma - tiểu vũ trụ từ đại vũ trụ Brahama tách ra mà thành. Khi chết con người tiểu vũ trụ lại trở về với đại vũ trụ nên thi hài phải nhanh chóng thiêu đi để linh hồn không còn nơi bám víu, nhanh chóng trở lại với đại vũ trụ để lại tách ra đầu thai vào kiếp khác. Vì thế tang lễ được tiến hành theo nghi thức hỏa táng với quan niệm sẽ thiêu đốt hết mọi tội lỗi trước khi sang kiếp khác.
    Khi gia đình có người gìa qua đời, thầy achar (người đã qua tu hành, thông thạo mọi nghi lễ trong phm, sróc) hướng dẫn liệm xác, không được bọc nhiều để dễ thiêu xác, chỉ thay quần áo mới, bỏ vào miệng thi hài vài đồng tiền với quan niệm để người chết có tiền đi đường, phủ miếng vải trắng lên mặt. Sau đó, thầy achar và các vị sư sãi (tuỳ theo mức độ giàu – nghèo của gia chủ mà có thể từ 2 – 4 vị sư sãi), vừa tụng kinh vừa hướng dẫn đặt thi hài vào quan tài cho ngay ngắn. Nhà giàu có áo quan riêng bằng gỗ tốt, sơn vẽ trang trí, thiêu xác luôn cùng áo quan. Nhà nghèo thì mượn áo quan của nhà chùa, khi thiêu thì rút tấm ván hậu cho thi hài lọt xuống đống củi thiêu, quan tài được tẩy uế trả lại cho nhà chùa để người sau mượn…
    Khi quan tài còn quàn trong nhà, trên nắp quan tài thắp 3 cây đèn cầy (nến). Cây thứ nhất tượng trưng cho đức Phật chứng giám (preh nuth), cây thứ hai tượng trưng cho đạo đức người chết trong sạch (preh tho), cây thứ ba tượng trưng cho chân tu theo Phật (preh soong). Ngọn lửa của các cây đèn cầy chứng giám cho người quá cố đã mãn đời, cháy suốt ngày đêm cho đến khi đưa tang. Dưới chân quan tài đặt lon cát cắm hương, trên đầu quan tài đặt cái thúng gọi là chol ta bông, đặt 3 hay 4 bát gạo, 1 nồi đất, 2 cây đèn, 4 bát cơm, 4 đôi đũa, 2m vải trắng, 1 quả dừa khô bóc vỏ, 2 cái chôm tết bằng lá dừa cắm trên khúc chuối cao 15cm. Đó là những lễ vật, đồ đạc để người chết dùng ở thế giới bên kia. Khi quan tài còn để trong nhà, chỗ mọi người dễ thấy nhất là thường chôn một cột gạo, trên treo một lá cờ trắng vẽ hình con cá sấu, ý nghĩa là để xua đuổi chằng (yêu quái) không đến quấy nhiễu linh hồn người chết.
    Khi đưa tang, thầy achar và các vị sư sãi ngồi trên xe hoặc ghe đầu, quan tài trên xe hoặc ghe sau. Thầy achar tay cầm lá cờ trắng vẽ hình cá sấu xua đuổi tà ma, tay cầm cái “phạng” treo nồi đất, ý nghĩa là cuộc đời con người như cái nồi đất được nặn chế ra, sử dụng đến khi hư hỏng đến khi qua đời. Nồi đất sau đó được treo vào một chỗ nào đó hoặc đem biếu cho thầy achar. Trên đường đưa tang, thầy achar tung rắc cốm (bằng thóc ngâm nước phơi khô, rang nổ bông), ý là con người sống bằng lúa gạo khi chết có nhiều lúa gạo để rang cốm sẽ không bị đói.
    Trước khi thiêu xác quan tài được rước vòng quanh chỗ thiêu 3 vòng từ phải qua trái, từ dương sang âm, ý là người chết từ cõi dương về cõi âm. Sư cả được mời châm lửa thiêu xác. Trong khi thiêu, các nhà sư liên tục tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thoát, đồng thời các nhà sư làm lễ xuống tóc cho con hoặc cháu trai người quá cố vào chùa tu hành báo hiếu, để đền đáp ơn nghĩa người quá cố (gọi là lễ buas múc phton).
    Tro than hỏa táng được nhặt rửa bằng nước dừa, rượu sau 7 ngày hoặc 9 ngày (tuỳ theo tuổi thọ người chết), tang chủ tổ chức lễ cầu phước cho người chết một đêm, nhà giàu có thể kéo dài vài ba đêm. Tro cốt được bày ra, lễ tiến hành ở giữa nhà, mời các vị sư sãi đến làm lễ tụng kinh. Sau đó cốt tro than được thu cất vào trong lọ sành, có thể cất ở tháp cốt trong nhà riêng nếu gia đình có xây tháp đựng cốt. Nhưng ở người Khmer, thiêng liêng nhất là “Ruos puhơ bobos slăp puhơ chương” (sống giữ của, chết giữ xương), sống không tiếc công của dâng cúng chùa, chỉ mong khi chết được giũ xương cốt trong tháp cốt nhà chùa để được mát mẻ dưới bóng bồ đề.
    Sau 100 ngày, con cháu lại làm lễ cầu phước cho người đã khuất. Gia đình mời sư sãi đến tiến hành lễ đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết siêu thoát, con cháu cởi bỏ khăn tang với quan niệm đủ 100 ngày (số đại đương 99 + 1), đủ sinh sôi phát triển, linh hồn có thể tự lập được cuộc sống (như người Kinh). Sau đó, quan hệ giữa người sống và người chết chấm dứt.

    Đời sống tín ngưỡng:
    Các lễ hội truyền thống của người Khmer:
    Lễ hội Sel – Dolta: (gọi là lễ cúng Ông bà)
    Cộng đồng người Khmer Nam bộ là cư dân nông nghiệp lúa nước, lại rất mực tin theo đạo Phật giáo Tiểu thừa nên đời sống tín ngưỡng diễn ra gồm những khía cạnh sau:
    Cũng như các dân tộc khác, người Khmer ở Nam bộ có cách thức làm lễ báo hiếu riêng của mình và lễ đó được gọi là Sel – Dolta ( hay gọi là lễ Ông bà).
    “Sel - Dolta” dịch ra tiếng phổ thông có nghĩa là “cúng ông bà”, do đó lễ hội Sel – Dolta bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian. Từ xa xưa, đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiện hữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, nhưng linh hồn thì vẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng. Xuất phát từ đó, hình thức “sel” (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống đối với người đã khuất. Việc “sel” chủ yếu nhằm vào hai đối tượng là hồn linh những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình và những có công tạo lập, bảo vệ công đồng dân tộc.
    Chùa Khmer là nơi sinh hoạt văn hóa dành cho cả cộng đồng, nên bất kỳ cuộc lễ nào cũng đều đưỡc tổ chức ở đó. Vào những ngày Sel – Dolta, hầu như bà con thức suốt đêm để vui chơi bên nhau. Đêm đến, các đôi trai gái sánh vai nhau nhịp nhàng với điệu Lăm – thon trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm vang vang như làm hăng thêm nhịp múa. Nơi kia, từng cặp, từng đôi say sưa với điệu hát À – day.
    Thời xưa, khi người đất phương Nam còn “làm chơi ăn thiệt”. Theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ Sel – Dolta cổ truyền kéo dài đến nửa tháng, lúcc công việc ruộng nương đã hoàn tất việc cày cấy cho vụ lúa mùa. Những ngày này, mọi người trong nhà chuẩn bị cơm cùng bánh trái và hoa quả ngon mang đến chùa, tổ chức thành lễ hội chung của phum, sróc và nhờ các vị sư sãi tụng kinh cầu nguyện mọi điều tốt lành cho vong linh những người thân ở cõi vĩnh hằng, để tỏ lòng báo hiếu và tri ân đối với ông bà tổ tiên.
    Lễ hội Sel – Dolta của đồng bào Khmer Nam bộ là lễ hội lớn trong năm của đồng bào, mang màu sắc tín ngưỡng dân gian xen lẫn tôn giáo, chứa đựng nhiều yếu tố tích cực. Lễ hội thể hiện được truyền thống đạo lý “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc. Bên cạnh đó, qua nội dung của lễ hội đã giúp cho gia đình sum họp, đằm ấm; thắt chặt tình đoàn kết yêu thương giúp đỡ nhau trong phum sróc. Vật Sel – Dolta tượng trưng không thể thiếu được là bánh tét (đồng bào gọi là num – chruôt) nhằm tượng trưng cho ý nghĩa đó.
    Ph – chum Benh là một tên gọi của lễ Sel – Dolta thừơng đựơc ghi trong sách vở. Ph –chum Benh nghĩa là lễ tụ hội phước đức, vì người Khmer xem lễ này là lễ lớn nhất trong các lễ tạo phước đức. Từ “lễ” trong tiếng Khmer là “pinda” hoặc “puya” (nhân, tăng thêm… hay punna) nghĩa là công đức, phúc đức… Người Khmer làm bất cứ một lễ nào hầu như để tạo phước đức.
    Đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ qua đời sung sướng nhất là cốt tro than được giữ trong tháp cốt nhà chùa, được mát mẻ dưới bóng bồ đề và có con hoặc cháu trai xuống tóc lên chùa tu báo hiếu, linh hồn người chết ít tác động phù hộ cho người sống nên trong nhà người Khmer bàn thờ tổ tiên không quan trọng bằng bàn thờ Phật (điểm này rất khác so với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh, vì đối với người Kinh nơi trang trọng và tôn nghiêm nhất được đặt chính giữa nhà là bàn thờ tổ tiên, ông bà…). Lễ cúng tổ tiên được quy định là ngày lễ chung của toàn dân Khmer gọi là lễ “sel – dolta”.
    Cũng như lễ Vu Lan báo hiếu của đồng bào dân tộc Kinh, đồng bào Khmer Nam bộ có ngày Lễ Sen Dolta để ghi nhớ công ơn sinh thành nuôi dưỡng của ông bà, cha mẹ vào các ngày từ 29/8 đến 1/9 âm lịch hằng năm (theo lịch của người Khmer). Lúc này đang là mùa mưa, lúc lúa đang xanh tươi, tiếng chim riết róng kêu nên người Khmer gọi là chim tổ tiên (Sath đôn ta).
    • Ngày thứ nhất: các gia đình đồ xôi, đóng oản, rắc muối vừng cùng các thứ trái cây dâng lên chùa cúng Phật, dâng cơm sư sãi, mời tổ tiên về chùa hưởng lộc, đồng thời bố thí Khmach hay sách (ma quỷ đói khát). Các gia đình người Khmer đều tập trung vào chùa để nghe kinh Phật và cúng linh vị tổ tiên đã gửi vào đây.
    • Ngày thứ hai: các gia đình giết gà, vịt xào nấu các món ăn cúng mời ông bà, tổ tiên về hưởng lễ.
    • Ngày thứ ba: lễ cúng tiễn tổ tiên, ông bà; lễ vật cũng như ngày thứ hai.
    Gia đình mời bạn bè, khách qua đường đến ăn uống vui vẻ. Sau đó, gia đình xẻ một ít thức ăn đặt lên bè chuối thả trôi sông để ông bà có thức ăn đi đường, trên bè có cắm cờ vẽ hình cá sấu ý muốn xua đuổi tà ma.
    Những món ăn thân thiết, gần gũi với đời thường như trái cây vườn nhà, sản vật chợ quê, nếp thơm dẻo được bàn tay khéo léo của phụ nữ Khmer chế biến thành thức ăn truyền thống như bánh tét, bánh nếp, bánh ít dâng lên bàn thờ cúng tổ tiên.
    Con cháu các hộ Khmer còn chuẩn bị các thức ăn, lễ vật có ý nghĩa dâng lên ông bà, cha mẹ còn sống để tỏ lòng hiếu kính.
    Những ngày Lễ Dolta tại các chùa Khmer còn tổ chức nhiều hoạt động biểu diễn các loại hình nghệ thuật như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa Ramvong, dân tộc truyền thống… để nhân dân vui chơi, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer Nam bộ.
    Riêng đồng bào Khmer ở tỉnh An Giang thì sau các hoạt động văn hóa nghệ thuật tại các chùa còn tổ chức Lễ hội đua bò Bảy Núi.

    Lễ dâng bông của người Khmer Nam Bộ:
    Đoàn dâng bông với những dầy (bà), những mìn (cô), những bòn (chị), mặc những chiếc xà rông (y phục truyền thống của dân tộc Khmer) mới tinh bưng những cây bông rực rỡ, lặng lẽ nối thành hàng, lũ lượt dọc đường quê mênh mang nắng gió, hướng về phía những ngôi chùa Khmer thâm nghiêm dưới những “rừng” cây xanh mát...
    Những cô gái đẹp được chọn bưng những cây bông rực rỡ, lung linh bao sắc màu huyền ảo. Trong con mắt trẻ thơ, cây bông mới lạ lẫm và đẹp đẽ làm sao! Những cây bông được trang trí bằng những sợi tua rua đong đưa theo bước chân người, lấp lánh bởi những chiếc gương tròn nhỏ, xinh xinh. Đong đưa theo nhịp chân bước còn là những đồng tiền giấy được xếp gọn và cột lại rất xinh xẻo. Lễ dâng bông tiếng Khmer gọi là Bon phkar. Lễ được tiến hành theo nghi thức Phật giáo. Vào lễ, ngày đầu tiên bắt đầu vào buổi tối. Trước hết các sư sãi đọc kinh cầu nguyện, xong tới các chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí phục vụ người đến dự lễ. Con sróc (người dân sống trong sróc) đến chùa đầy đủ. Khuôn viên chùa rộng vài héc-ta chật cứng người. Qua một đêm lễ hội, sáng hôm sau, đồng bào Phật tử mới làm lễ dâng bông dâng lên sư sãi.
    Khi những cây bông cuối cùng được dâng lên, buổi lễ kết thúc.
    Dâng bông là một tục lệ rất có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng: Người ta tổ chức quyên góp để đắp đường, tu sửa trường học, nhà tăng, nhà hội... Lễ dâng bông của từng địa phương, tuy cách làm cây bông mỗi nơi có khác nhau đôi chút nhưng việc tiến hành lễ và mục đích lễ ở cả khu vực miền Tây Nam bộ nói chung đều rất giống nhau. Tất cả đều thể hiện một ý thức cộng đồng rất cao. Điều này dễ dàng nhận thấy qua hình ảnh ngôi chùa ở từng phum sóc. Dù nhà ở của con sóc còn đơn sơ, đời sống còn khó khăn nhưng ngôi chùa của họ vẫn cứ uy nghi, tráng lệ. Trong không gian yên bình, ngôi chùa vươn mái cong lên nền trời xanh như một niềm kiêu hãnh, một niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tươi sáng.

    Lễ hội Ook – om – bok:
    Ook – om – bok hay còn gọi là lễ cúng trăng có nguồn gốc từ rất lâu đời của người Khmer, luôn được tiến hành hàng năm vào ngày rằm tháng 10 Âm lịch. Đây là ngày cuối cùng của một chu kỳ Mặt trăng xoay quanh Trái đất và cũng là thời điểm hết thời vụ của năm. Theo quan niệm của người Khmer, cúng trăng là để tạ ơn thần Mặt trăng suốt một năm đã bảo vệ mùa màng, đem lại mưa thuận gió hòa, giúp mùa màng bội thu, đồng thời giúp cho nông dân trúng mùa tới.
    Theo truyền thuyết, tiền kiếp của Phật Thích Ca là một con thỏ, sống quẩn quanh bên bờ sông Hằng. Một hôm, thần Sakah xuống trần giả làm người ăn xin để thử lòng thỏ. Không có gì làm phước, thỏ đốt lên đống lửa, nhảy vào và mời người ăn xin dùng thịt mình. Lửa bỗng dưng tắt ngấm và người ăn xin biến mất, rồi thần Sakah hiện ra khen ngợi lòng hy sinh cao đẹp của thỏ và vẽ hình thỏ lên Mặt trăng. Từ đó trở đi, người ta thường nhìn thấy hình con thỏ ngọc trên cung trăng vào tết Hạ nguyên (ngày 15/10 Âm lịch). Vì vậy, lễ cúng trăng là để tưởng nhớ đến tiền kiếp của đức Phật Thích Ca.
    Lễ cúng Ook – om – bok trong đêm rằm tháng 10 Âm lịch, thường diễn ra tại sân chùa, sân nhà, hoặc một khu đất trống nào đó để mọi người dễ dàng quan sát Mặt trăng. Trước khi trăng lên, người ta đào lỗ cắm hai thanh tre cách nhau khoảng ba mét và gác ngang một thanh tre khác như một cái cổng thật đẹp và đặt dưới cổng một cái bàn. Trên bàn có bày biện các thức cúng như cốm dẹp, khoai lang, khoai môn, dừa tươi, chuối, bánh kẹo... Trong mâm cúng luôn có một ấm trà, sau mỗi lần rót trà vào ly, người ta lại một lần khấn vái để nhớ ơn đức Phật.
    Khi trăng lên đỉnh đầu, một người lớn tuổi, đức độ, có uy tín được cử ra làm đại diện cúng Mặt trăng. Người cúng thắp nhang, rót trà và khấn nguyện. Trong quá trình cúng, trẻ em trong xóm tụ lại rất đông để đợi ăn bánh. Khi cúng xong, người lớn hướng dẫn trẻ em sắp thành một hàng dọc rồi lấy thức cúng mỗi thứ một ít đút vào miệng từng bé.
    Khi đút vào, bé không được nuốt ngay mà phải đợi khi được đút xong đủ mọi thứ vào miệng. Lúc này, người chủ lễ mới đấm vào lưng em đó nhè nhẹ ba cái, và hỏi lớn lên ước mơ sẽ làm gì.
    Vì thức ăn ở đầy trong miệng, em đó sẽ phát âm không rõ ràng khi trả lời nên sẽ tạo ra một trận cười sảng khoái cho những người xung quanh. Việc làm này là để đoán định tương lai của mỗi bé, để tượng trưng cho việc mọi người đã nhận được lộc của thần Mặt trăng và cũng là việc đánh dấu thành quả sau một năm lao động mệt nhọc của mỗi gia đình.
    Hai sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn và có sức thu hút mọi người nhiều nhất trong ngày lễ cúng trăng là thả đèn gió và đua ghe ngo.
    Đèn gió được cấu tạo từ những vật liệu tre, giấy quyến và dây kẽm, có hình vuông hoặc tròn (đèn tròn thông dụng hơn). Từ những nan tre chuốt nhẵn, người ta làm thành những vòng tròn có đường kính chừng 1m, sau đó liên kết những nan tròn ấy thành khối trụ có chiều cao chừng 2m, sau đó dán kín bằng giấy quyến, trừ đáy đèn để trống và gắn vào đó là một “ổ nhện” làm bằng kẽm lớn. “Ổ nhện” được phủ lên lớp gòn ta có tẩm ướt dầu phọng. Khi đốt lớp gòn, nhiều người cùng góp sức nâng đèn lên cao. Nhiệt độ làm giấy căng phồng, tạo ra lực đẩy. Những người nâng đèn nương tay theo và cùng buông tay khi lực đủ mạnh để đẩy đèn bay lên mà không bị chao nghiêng làm cháy giấy.
    Đèn bay thẳng lên không trung trong tiếng reo hò, vỗ tay của người xem. Tiếng nhạc trỗi lên càng làm đêm rằm náo nhiệt buông xuống. Hàng chục chiếc đèn được thả lên cả một vùng trời. Trên bầu trời, những ngọn đèn cứ đung đưa theo gió, xua đi những tai ương, rủi ro, bất trắc để phum sóc được yên bình. Năm nào cũng vậy, lễ thả đèn gió thu hút cả ngàn người đến xem, trong đó có nhiều khách đến từ tỉnh khác và cả du khách nước ngoài.

    Lễ hội đua ghe ngo:
    Đua ghe ngo là môn thể thao dân gian truyền thống không thể thiếu trong lễ hội Ook – om – bok, thu hút hàng vạn người xem. Lúc đầu, đây chỉ là một trò chơi dân gian diễn ra trong đêm cúng trăng, nhằm dâng lên các đấng thành tiên nơi cung trăng thưởng thức, vì vậy chỉ được tổ chức vào ban đêm, lúc trăng lên, sau khi đã thực hiện xong các nghi lễ cúng trăng. Dần dần, trò chơi này được nâng lên thành lễ hội, mang tầm khu vực, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân tham dự.
    Tương truyền chiếc ghe ngo xưa là phương tiện được trang bị cho dân quân đánh giặc trên vùng sông nước. Hầu hết các chùa đều có một chiếc ghe và được bảo quản cẩn thận. Hàng năm, vào dịp rằm tháng 10, ghe ngo lại được trang trí đẹp mắt, treo đèn kết hoa thật lộng lẫy. Để ngày hội đua ghe ngo hấp dẫn, đông vui, cách đó cả tháng các chùa đã chuẩn bị tuyển chọn tay bơi là những chàng trai Khmer vạm vỡ ở các phum sóc rồi tập dợt cho dẻo dai, đều nhịp mái chèo.
    Ghe ngo là một dạng thuyền độc mộc, có chiều dài từ 25 - 30m, chiều ngang từ 1 - 1,4m, có đóng nhiều thanh ngang vừa cho hai tay bơi ngồi theo cặp suốt chiều dài ghe. Mỗi ghe đua thường có 46 đến 60 người chèo, riêng người điều khiển nhịp chèo ngồi ở trước mũi. Ngoài ra còn có người đứng giữa thổi còi phụ họa theo nhịp người điều khiển. Mái chèo được làm bằng gỗ nhẹ, dẻo, không thấm nước, bản rộng, mỏng và tròn dần về cán. Mỗi chiếc ghe ngo có những biểu tượng khác nhau, thường là kha la (con cọp), rồng, sư tử, cá poon-co... Trước khi hạ thủy, làm lễ cúng vị thần phù hộ cho ghe.
    Đua ghe ngo là môn thể thao rất hấp dẫn và rất hào hứng. Vào trưa ngày rằm, khi nước bắt đầu dâng lên, người hai bên bờ chật kín, còn ghe xuồng đã sẵn sàng đậu dọc suốt hơn một cây số. Tiếng trống cùng dàn nhạc ngũ âm, tiếng còi nổi lên rộn rã. Khi một hồi còi rú lên - hiệu lệnh xuất phát thì từng cặp ghe đua với trăm đôi tay chèo lực lưỡng rạp người vung chèo đều tăm tắp theo nhịp tu huýt và phèng la đẩy chiếc ghe ngo vút nhanh về đích. Tiếng trống, tiếng loa hòa trong tiếng reo hò, vỗ tay cổ vũ náo động cả mặt sông.
    Chiếc ghe ngo là một sản phẩm văn hóa hết sức độc đáo của đồng bào Khmer Nam bộ, cũng là biểu tượng của sự no ấm, sung túc. Chiếc ghe ngo còn là hình ảnh đại diện cho mỗi phum sóc hoặc cho toàn xã, toàn huyện nên cuộc đua ghe thường diễn ra rất quyết liệt không phải vì giá trị tiền thưởng mà vì danh dự và vinh quang của đơn vị đăng ký tham gia.
    Lễ hội Ook – om – bok mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam bộ. Nó thể hiện được những khát vọng, tâm hồn và tình cảm của con người đối với con người và con người đối với các đấng bề trên. Vì vậy, việc tổ chức lễ hội Ook – om – bok hằng năm không chỉ là việc bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống, giàu tính nhân văn của đồng bào Khmer Nam bộ, mà còn là một sản phẩm du lịch hấp dẫn để thu hút du khách bốn phương.

    Tôn thờ Thần Neak Ta:
    Người Khmer rất mực tôn sùng đạo Phật, nhưng cơ bản vẫn là cư dân nông nghiệp thủ công, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, đất trời nên vẫn không bỏ được tín ngưỡng thần linh (điều này ta cũng dễ nhận thấy trong tín ngưỡng tâm linh của người Kinh). Thần linh gọi chung là Neak Ta, được biểu hiện ra: Neak Ta Meba Sros là thần linh phum sróc; Neak Ta Walt là thần giữ chùa; Neak Ta Ta Chay là thần ao hồ, ngã ba sông; thần Neak Ta ao Bà Om ở Trà Vinh; Neak Ta Sâm rông là thần cây trôm, Neak Ta Đom Chreay là thần cây đa, hoặc như Neak Ta Kra Hamcô (cố đỏ) là thần người thắt cổ tự tử.
    Miếu thờ Neak Ta có loại đơn giản bằng tre có sàn hoặc nền đất dưới tán cây to ở một gốc bãi rộng, cuối cùng ven bưng (bẻeng). Có nhiều miếu xây gạch quy mô trong khuôn viên chùa. Cũng có Neak Ta không có miếu thờ, ai cần cầu khấn gì thì đặt lễ trên gò mà khấn. Miếu thờ Neak Ta thường theo hướng Bắc, biểu hiện tà khí lạnh lẻo.
    Biểu tượng Neak Ta tôn thờ trong miếu thường đặt tượng trưng vài hòn đá to nhỏ, thường là hình bầu dục (đây là tục thờ đá của cư dân nguyên thủy ở nhiều nước Đông Nam Á và Nam Đảo còn rơi rớt lại, trong đó có người Khmer). Với quan niệm đã có một thời kỳ dài lịch sử, đá là công cụ kỳ diệu thay cho đồ dùng bằng đồng, sắt nhưng vẫn không quê sự kỳ diệu thần linh của đá, đá còn là cột nối trời đất. Người Khmer còn dùng đá làm bùa yếm huyệt tám hướng và trung tâm ở mỗi ngôi chùa.
    Mỗi năm một lần vào tháng tư, bắt đầu mùa mưa lũ, người dân trong phạm vi mỗi phum, sróc cúng thấn Neak Ta với ý nghĩa cầu an, cầu cho mưa thuận gió hòa. Cúng Neak Ta ở phum, sróc bằng thịt heo; cúng Neak Ta rạch, bưng, giồng bằng thịt gà, vịt hoặc không bất cứ thời gian nào, gia đình nào gặp chuyện chẳng lành thì sửa lễ cúng Neak Ta ở miếu. Các vị sư sãi bị ốm đau cúng Neak Ta ở miếu trong khuôn viên chùa. Trước đây Neak Ta còn là quan tòa xử kiện việc trong phum, sróc; khi cần có điều thề thốt là hai bên đưa nhau lên miếu cúng Neak Ta cùng đem con gà đang sống đến miếu cắt cổ cho chảy máu rồi thả gà ra, lời thề của hai bên là đúng hay sai tùy thuộc vào việc con gà sống hay chết (đây là nét nguyên thủy sát sinh lấy máu dâng cúng thần cầu nguyện). Đôi khi Neak Ta còn là thần bảo hộ tình yêu của đôi trai gái, thể hiện ở những câu ca:
    “Nếu em còn nhớ anh
    Hãy dâng một cây đèn cầy (nến)
    Cho Neak Ta Ma bras Srok
    Để anh sớm trở về
    Hỡi em yêu
    Để anh sớm trở về!”.

    Tôn thờ Phật:
    Người Khmer không có vị sư nữ vì đồng bào theo Phật giáo Tiểu thừa với câu chuyện tuyên truyền lại: Khi Thích Ca còn sống, ông cho rằng phụ nữ là nguồn gốc của mọi sự rối rắm tội lỗi nên không chấp thuận cho phụ nữ đi tu. Ngài Anna, vị tổ thứ hai nói rằng nước cũng mặn, máu cũng đỏ sau lại không cho tu hành. Thích Ca chấp thuận nhưng yêu cầu khi ông còn sống thì phụ nữ không được đi tu. Từ đó truyền lại, Phật giáo Tiểu thừa với nguyên tắc giữ nguyên triết lý vô thường (vật chất luôn biến đổi) của Thích Ca, chỉ tôn thờ một Đức Phật Thích Ca trên chùa và không có các vị sư nữ lên chùa tu Phật. Có thể tu một ngày, một tháng, một năm rồi quay trở về xây dựng gia đình, cũng có thể tu suốt đời làm sư sãi luôn trên chùa. Nhưng về mặt thờ tự cúng lễ thì toàn dân Khmer, kể cả phụ nữ đều có thể dâng lễ cúng Phật ở nhà, trên chùa.
    Thờ Thích Ca trên chùa gồm có Thích Ca bát thể (Thích Ca ở tám thời điểm) đó là:
    • Thích Ca thành đạo
    • Thích Ca ngồi tọa thiền
    • Thích Ca gắn với vị tổ người Khmer – rắn ngựa
    • Thích Ca cứu độ chúng sinh
    • Thích Ca sơ sinh
    • Thích Ca tu khổ hạnh trên núi tuyết
    • Thích Ca nhập niết bàn
    • Thích Ca đi khất thực
    Từ tám biểu tượng Thích Ca trên đây, mở rộng ra nhiều kích thước to nhỏ nên biểu tượng thờ Phật ở chùa người Khmer cũng rất phong phú (còn Phật giáo Đại thừa thể hiện ở chùa của người Kinh không những thờ Thích Ca mà còn thờ rất nhiều vị bồ tát khác nên điện thờ Phật càng phong phú hơn).
    • Toàn dân Khmer sùng bái đạo Phật nên mọi hoạt động lễ nghi đều trên chùa cũng là lễ nghi của mọi gia đình người Khmer, biểu hiện:
    • Lễ “Phật Đản” ngày 15 tháng 4, mọi nhà trong phum sróc đều tập trung lên chùa dâng cơm sư sãi, tụng kinh mừng Đức Phật ra đời. Đồng bào ở lại suốt đêm trong chùa, sáng hôm sau lại dâng cơm sư sãi rồi mới chấm dứt cuộc lễ.
    • Lễ “Nhập hạ” bắt đầu từ ngày 15 tháng 6, mọi gia đình Khmer dâng thức ăn vật dụng lên chùa, đủ cho sư sãi dùng trong ba tháng hạ. Đến lễ xuất hạ ngày 15 tháng 9, thì suốt đêm 14 và cả ngày 15 tín đồ ở lại chùa làm lễ dâng cơm sư sãi, đọc kinh Phật như một ngày lễ lớn.
    • Lễ “dâng áo cà sa lên sư sãi” kéo dài 29 ngày (từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10), các gia đình hợp lại với nhau, lễ vật được chất đầy kiệu rước lên chùa cúng Phật, hiến dâng các vị sư sãi.
    • Lễ “đặt cơm vắt” kéo dài 15 ngày (từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 8), các gia đình dâng lên chùa gạo nếp, trái cây, bánh men và cơm vắt nắm tròn đựng vào khay mang lên chùa cúng Phật, cầu cho linh hồn những người quá cố được mát mẻ dưới bóng bồ đề.
    Đồng thời nhiều lễ nghi trong cộng đồng phum, sróc của người Khmer đều diễn ra gắn liền với chùa chiền như sau:
    • Lễ Sel – Dolta là lễ cúng tổ tiên.
    • Lễ đón năm mới Chol – chnam – thmay vào tháng 3 lịch của người Khmer (ngày 13 tháng 4 dương lịch). Các tín đồ lên chùa rước lịch Sang krăm (lịch do các nhà sư soạn dùng trong cả năm), diễn ra hội thi đắp núi cát thể hiện núi lúa, các gia đình dâng cơm sư sãi, tắm Phật, tắm sư. Các nàh sư đến tháp cốt trong chùa hoặc đến các nghĩa trang mở lễ cầu siêu Bangskoi cho linh hồn người đã khuất.
    • Lễ hội Ook – om – bok ngày 15 tháng 10 cúng trăng mừng được mùa, các gia đình làm nhiều bánh, trái cây, cốm dẹt cúng trăng, thả đèn cầy trên kênh rạch, trên chùa diễn ra lễ hội thả đèn gió cúng trăng, đạc biệt tổ chức đua ghe ngo trên sông.
    Người Khmer thờ Phật và tổ tiên, có các nghi lễ nông nghiệp như cúng Thần Ruộng, gọi hồn lúa, Thần Mặt Trăng…
    Cả hôn lễ, tang ma cũng đều gắn liền với nhà chùa, gắn liền với các vị sư sãi. Trẻ con cũng học chữ, học làm người tại các trường trên chùa, gắn liền với các vị sư. Có thể nói ở người Khmer đời và đạo gắn liền làm một. Nơi nào có người Khmer nơi đó có chùa “Kon loéngana niêm Khơ mer loeng nương niêm Wat”. Đã bao đời nay, đối với người Khmer mỗi gôi chùa của họ không chỉ là một không gian văn hóa (kiến trúc nghệ thuật, giáo dục, lễ hội) màa mỗi ngôi chùa thông quá các nhà sư được xem như là một sức mạnh tinh thần, một nền tảng đạo đức, một luân lý sống ở thiện làm phước, một thế cân bằng cho mọi kiếp đời về cái chết lý tưởng “mát mẻ dưới bóng bồ đề”. Đối với người Khmer, mỗi ngôi chùa của họ là một không gian tâm linh thiêng liêng thánh thiện, họ bảo vệ ngôi chùa như bảo vệ chính cuộc sống của mình. Người Khmer thường hay nói câu “Mơn kất avây tereksa klang mian dom cayko pres” (có nghĩa là: kể gì, cốt là bảo trì được cái kho tàng quý giá là đạo Phật).

    Chùa và Sư sãi trong quan niệm của người Khmer Nam bộ:
    Chùa Khmer là nơi tôn nghiêm đồng thời là nơi dạy chữ Pali và giáo lý của đạo Phật cho thanh thiếu niên Khmer tu học, để trở thành những người “tốt đời đẹp đạo”, có tri thức và đức hạnh phục vụ cộng đồng xã hội. Chùa Khmer được coi như một thiết chế văn hóa trong phum sóc, là nơi sinh hoạt văn hóa Phật giáo, văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian cho bà con Phật tử vào các dịp lễ, Tết.
    Đại bộ phận người Khmer theo Phật giáo Nam tông, lấy chùa làm nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần và tâm linh. Phật giáo Nam tông từ lâu đã trở thành báu vật tinh thần vô giá của dân tộc Khmer. Chúng ta dễ dàng nhận thấy các giá trị tinh thần, những tinh hoa của đạo Phật luôn gắn chặt với bản sắc văn hóa dân tộc Khmer trong cộng đồng phum sóc. Chùa là sợi dây vô hình nối kết với đồng bào và bổ sung cho nhau trong quá trình tồn tại và phát triển. Trước xu thế tác động của nền văn hóa ngoại lai thời hội nhập, thì chùa là nơi giữ gìn ngôn ngữ, chữ viết, phong tục và lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Khmer.
    Mỗi ngôi chùa Khmer có một sư cả và hai sư phó (cả nhì). Vị sư cả là người tu lâu năm nhất trong chùa (có thể là Hòa thượng, Thượng tọa hay Đại đức). Nếu vị sư cả viên tịch, chuyển sang làm sư cả chùa khác, hoặc hoàn tục thì sẽ tấn phong vị cả nhì lên thay. Việc tấn phong sư cả mới do Ban Quản trị và các nhà sư trong chùa quyết định. Trong trường hợp nội bộ sư sãi trong chùa không nhất trí thì nhờ đến Giáo hội cấp trên thuyết phục hoặc điều động vị sư cả mới, các cấp Giáo hội ít khi ra quyền chỉ định. Hai vị cả nhì có hai chức năng nhiệm vụ khác nhau: Một vị chuyên quản lý nhân sự và chăm lo việc học hành của sư sãi, phân công các vị sư đi làm lễ tại các gia đình Phật tử và tiến hành xử phạt các vị sư không theo quy chế hoặc phạm giới cấm nhẹ mà chưa cần đưa ra hội đồng kỷ luật. Còn vị cả nhì thứ hai có trách nhiệm phân phối tài sản của nhà chùa cho các sư sãi sử dụng, đồng thời trông coi việc trùng tu chùa chiền. Có chùa thì giao một số công việc cho vị Achar (cư sĩ thành viên Ban Quản trị chùa).
    Theo phong tục, thiếu niên Khmer từ 12 tuổi trở lên mới được phép tu học. Có thiếu niên vào chùa tập sự xuất gia vài tháng đến một năm rồi xin về làm ruộng rẫy hoặc đi bộ đội, nhưng cũng có thiếu niên chịu khó tu học cho đến lúc được thọ giới Sa di. Theo giới luật, vị Sa di thọ 10 giới cấm, nếu vị Sa di nào vi phạm một trong 10 thì phải thọ giới trở lại. Vị Sa di còn tuân theo 110 uy nghi, tức cách đi đứng nói năng và ứng xử đúng phong cách người tu hành. Hàng tháng, nhà chùa giao cho vị cả nhì huấn thị hai lần các vị sư trẻ mới tu. Các nhà sư trẻ tu đủ 20 tuổi có thể làm lễ lên bậc Tỳ khưu và tiếp tục thọ 227 giới, gồm 4 nghiêm luật và 13 cấm luật. Nếu vị Tỳ khưu nào vi phạm một trong 4 nghiêm luật thì coi như bị trục xuất khỏi Tăng đoàn và vĩnh viễn không được thọ giới lại để trở thành Tỳ khưu. Còn nếu vị Tỳ khưu vi phạm một trong 13 cấm luật, thì tạm thời cách ly Tăng đoàn, không cho ra khỏi chùa và không được tiếp xúc với tín đồ trong một thời gian.
    Nhà sư Khmer được phép “ăn mặn”, trừ mười loại thịt như: cọp, khỉ, mèo, chó, chồn…, được phép dùng bữa cơm từ lúc sáng sớm đến giờ ngọ, còn từ giữa trưa đến chiều tối chỉ được dùng sữa, bánh ngọt, nước giải khát. Mục đích là để tiết dục, nhà sư nào vi phạm sẽ bị tín đồ coi như con quỷ đội lốt đi tu. Tất cả sư sãi đều đi khất thực. Hàng ngày có sự phân công luân phiên nhau trong chùa đi vào các phum sóc, mỗi nhóm có hai vị sư mang bình bát đến từng hộ, hộ nào đã ăn cơm xong thì khỏi, thức ăn được để trong các ngăn của cà – mên do 1 - 2 thiếu niên mang theo đi cùng nhà sư, giờ khất thực vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Có chùa Khmer tự sản xuất lúa hoặc quyên gạo trong dân thì các sư phân công nhau nấu cơm, còn thức ăn thì người dân trong phum sóc mang đến cúng dường. Tóm lại, cuộc sống của nhà sư do người dân trong phum sóc nuôi dưỡng và gia đình các vị sư trẻ đang tu học cung phụng.
    Người Khmer quan niệm thanh niên tu học đến bậc Sa di là để đền ơn cha, đến bậc Tỳ khưu là để đền ơn mẹ. Có người cho là đi tu để được học hành nhiều hơn, nâng cao thêm trình độ. Còn trong quan niệm tôn giáo cho là người đi tu để tu tâm, dưỡng tánh, tích thiện và cao hơn là đạt giải thoát, Niết bàn. Dù quan niệm nào đi nữa, cộng đồng người Khmer ở nông thôn vẫn thích cho con trai mình đi tu một thời gian, do mấy nguyên nhân: Các lễ hội và vui chơi giải trí đều được tổ chức tại chùa, nhà sư là biểu tượng để các em chiêm ngưỡng, là một trong ba ngôi báu thiêng liêng mà bà con luôn tôn kính. Hơn nữa, thanh niên Khmer đi tu đều được học cả hai thứ chữ (Khmer-Việt). Ngoài chữ Pali và Vini, có chùa còn tạo điều kiện cho các nhà sư trẻ học bổ túc văn hóa, ngoại ngữ, tin học, hội họa, điêu khắc gỗ, thuốc Nam… Sư sãi Khmer học chữ Pali là để nghiên cứu kinh luật của đạo Phật.
    Việc tu hành của các nhà sư trẻ không bắt buộc về thời gian, vị nào muốn tu bao lâu cũng được, trừ ba tháng nhập hạ (từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 hàng năm) không được vào tu hoặc hoàn tục. Thường thì các nhà sư trẻ phải tu từ ba năm trở lên mới học thuộc lòng hết những bài kinh Phật thông dụng. Cũng với thời gian này thì các nhà sư trẻ mới thạo cung cách của người tu hành: cách ăn, nói, đi, đứng, nằm, ngồi, khi tiếp xúc với đồng bào Phật tử trong phum sóc. Cộng đồng người Khmer tin tưởng rằng, sau một thời gian tu học tại chùa, các thanh thiếu niên sẽ được trang bị một kiến thức và nền tảng đạo đức căn bản để sống tốt hơn.

    Đời sống văn nghệ:
    Ca hát dân gian trong lễ cưới của người Khmer Nam bộ:
    Người Khmer Nam Bộ rất xem trọng ca hát. Trong lễ cưới (pithi Apea Pipea), họ có những bài hát riêng. Những bài hát này được phổ biến tron dân gian. Nó vừa diễn tả vừa ca ngợi tình cảm con người trong hôn nhân, những cuộc hôn nhân tốt đẹp, là kết quả của tình yêu đôi lứa.
    Việc tổ chức hát dân gian trong lễ cưới được tiến hành qua ba giai đoạn: Vào lễ, làm lễ và chung giường. Các nghi thức lễ tiết đều mang tính nghệ thuật khá cao.
    Trước tiên là vào lễ: Trước khi tiến hành lễ cưới, người ta tiến hành các lễ thăm hỏi, xin quyết định ngày cưới.
    Đến ngày cưới, bên nhà trai đem lễ vật qua bên nhà gái. Đoàn đi rất đông, có dàn nhạc đi theo. Như đã quy định, nhà gái hôm ấy rào kín cổng, ý nói lên rằng bên nhà gái có cô dâu còn trinh tiết. Lúc đoàn nhà trai vừa tới cổng. Hai nhân vật đại diện cho nhà trai và nhà gái diễn cảnh xin được phép mở cửa rào. Nhà trai bắt đầu hát mở lời xa, gần, nào là chuyện xin đất làm nhà, nào là chuyện xin múc nước giếng... để tìm cớ xin vào nhà. Nhà gái vẫn khăng khăng từ chối. Gặp cảnh này, nhà trai bèn cử ông Maha rút dao ra múa điệu “múa mở rào” (Rom bơc-kơ-ri-bong) trông rất đẹp mắt. Nhà gái thấy phục tài mới mở cửa rào ra cho nhà trai vào.
    Lễ cưới bắt đầu nhộn nhịp. Giàn nhạc trỗi lên, những người đến dự cưới cùng hát:
    “Người ta nói ông vua
    Không bao giờ đi bộ
    Khi thì vua cưỡi ngựa
    Khi thì vua cưỡi voi
    Phải có quan theo hầu
    Đằng sau rồi đằng trước
    Nào khiêng, nào đưa rước
    Rằng hết sức tưng bừng
    Sấm vang nghe đùng đùng
    Như nổi lên hát múa
    Cho tới khi vua ng
    Ới nàng theo hầu ơi”.
    Lời hát vui đã thúc giục mẹ cô dâu cùng cô con gái (nếu nhà không có con gái thì con trai thay thế) ra cửa đón nhà trai, mời nhà trai vào. Tất cả ổn định, Chú rể được đưa đi vái nhà ông Tà, xin ông Tà nhận chú rể là thành viên mới của phum sróc. Đoạn, tới “lễ cắt tóc”. Lễ này cũng diễn ra trong không gian ắp đầy âm thanh đầm ấm, thiết tha:
    “Bởi vì em yêu anh
    Nên anh yêu em mãi
    Muốn tình yêu chung thủy
    Em cắt tóc tặng anh
    Hỡi em yêu hiền lành
    Mái tóc mềm đen nhánh
    Anh mong điều may mắn
    Trong chiếc kéo trên khay
    Em hãy ngồi xuống đây
    Dưới tàn cô so đũa
    Mái tóc em buông xõa
    Thay lời em yêu anh”.
    (Bài Cắt tóc)
    Vào đêm đám cưới có ông lục tụng kinh, chúc phúc cho đôi trai gái. Cô dâu ngồi đối diện với ông lục.
    Chú rể ngồi bên trái thầy Achar. Cô bác họ hàng ngồi bên cạnh gợi lên cảnh gia đình đầm ấm bên nhau. Sau khi ông lục tụng kinh xong, chủ nhà mời khách ăn uống, chú rể dâng bánh trái cho cha mẹ cô dâu để tỏ lòng nhớ ơn người đã sinh thành ra vợ của mình.
    Đám cưới mở ra bằng “lễ cột tay” với hình ảnh chỉ hồng cột tay cô dâu chú rể. Buổi lễ được điểm xuyết bằng những âm thanh, tiết tấu và giai điệu du dương của bài hát “lễ cột tay”.
    Nhiều người đến chúc phúc, bài hát lại càng tha thiết với những lời hát cứ được lặp đi lặp lại:
    “Loại chim sáo thích ở rừng
    Vui hát tưng bừng khi đậu cành cây
    Mà cũng thích đó thích đây
    Nhưng không thèm cám gạo xay sẵn rồi
    Để anh đặt bẫy gài mồi
    Ngay dưới tổ sáo, em ơi hãy chờ”.
    Sau lễ cột tay, người ta cho đôi vợ chồng vào buồng tân hôn. Vợ đi trước, chồng đi sau nắm vạt áo của vợ, y như hoàng tử Thông nắm vạt áo công chúa Rắn đi xuống thủy cung trong truyền thuyết của người Khmer.
    Xong thủ tục trên, đôi trai gái thay y phục, ra ngoài chào đón khách.
    Sau đó, đến lễ “Cuốn chiếu”. Lễ này do ông Maha thực hiện. Đôi chiếu được người nhà trai mang đi tới, đi lui nhiều lượt, rồi mới trải ra. Ông Maha múa, miệng luôn hát “Ai mua chiếu không?”. Không có tiếng trả lời. Buổi lễ lắng lại, ông Maha lại nói:"Ai chuộc chiếu này sẽ có uy thế lớn và sẽ giàu có, đông con”. Nghe tới câu này, cặp mắt chú rể sáng lên, vội chạy đến ông Maha xin chuộc chiếu. Thấy cảnh đó, mọi người bèn đến vây quanh, hoan hô chú rể. Họ không tiếc lời chúc tụng vì chú rể đã có suy nghĩ và việc làm đúng. Khi chú rể chuộc được chiếu, người sinh thành cô dâu mời hai người đàn bà có đạo đức, gia đình khá giả, hạnh phúc vào trải chiếu cưới.
    Góp vui trong lễ cuốn chiếu, bà con lối xóm và họ hàng vừa nhập tiệc vui vẻ vừa tham gia văn nghệ qua những bài hát đối đáp (Ayay) nam nữ, giúp vui.
    Suốt trong lễ cưới, không khí lúc nào cũng sôi nổi, rộn ràng, song cũng không kém phần thân thiết, ấm áp. Những bài ca dân gian nói về tình yêu chân thật, thiết tha làm lòng người không khỏi bâng khuâng, xao xuyến. Khi cuộc vui sắp tàn, người ta hát bài “Tiễn khách ra về”. Bài ca có nội dung như sau:
    “Ôi, những người lớn tuổi trong làng ta
    Đã có mặt trong nhà phía sau rồi phía trước
    Các ông đã ban cho ta lời chúc phúc
    Mọi việc trên đời được suôn sẻ ấm êm
    Anh đã cắt rau và buộc lại, em ơi
    Rau anh đã cắt rồi buộc lại
    Hãy tha thứ cho những gì còn non dại
    Như cắt rồi buộc lại thì mọi việc sẽ xong”.
    Sau cùng là “lễ chung giường”. Lễ diễn ra vào buổi tối. Đôi tân hôn chia nhau các thức ăn đã cúng tổ tiên; đút chuối, chia nước dừa cho nhau, vợ vào trước, chồng theo sau. Sau khi dặn dò cách nằm ngủ thể hiện sự tôn trọng nhau, hai bà bước ra ngoài.
    Lễ cưới đã xong. Lời ca điệu múa cũng khép lại.
    Ngày nay, vì nhiều lý do, lễ cưới của người Khmer Nam Bộ đã được giản lược khá nhiều. Thay vì tổ chức ba ngày như trước kia, người ta chỉ tổ chức trong vòng có một ngày và các lễ tiết không cần thiết cũng được bỏ đi. May mắn làm sao, một số người theo truyền thống vẫn giữ được nếp xưa. Trong lễ cưới, âm điệu thiết tha của những bài hát cưới vẫn vang lên đầm ấm, tha thiết, ngọt ngào.

    Văn học và nghệ thuật:
    Người Khmer có chữ viết riêng (chữ khoa đầu) ghi chép lại một nền văn học khá phong phú của dân tộc mình trên lá buông gọi là Xátra lưu giữ trong các ngôi chùa, bao gồm:
    Truyện thần thoại giải thích về sự hình thành vũ trụ, các hiện tượng mặt trăng, mặt trời, nhật thực, nguyệt thực, mưa gió, sấm sét… Những truyện thần thoại có pha trộn nhiều mô – típ thần thoại Ấn Độ, nhưng vẫn mang nặng yếu tố bản địa với cảnh quan sông nước, kênh, rạch, núi non, ao hồ ở Nam bộ như núi Bà Đen (Tây Ninh), ao Bà Om (Trà Vinh).
    Truyện cổ tích có nhiều chuyện gần gũi với truyện cổ tích của người Kinh như: Chao Sanh Chao Thông (Thạch Sanh – Lý Thông), truyện Niêng Môrơn đe meađa (Cô gái mồ côi mẹ, giống Tấm Cám), truyện Chao sarôtôp chek (chàng Khố Chuối, giống truyện Trần Minh). Truyện Cối xay thần, Chàng Cá lóc phản ánh sự đấu tranh giữa các nhân vật tốt - xấu, thiện – ác…
    Truyện ngụ ngôn như các truyện Sâu quên bưng, Bướm và Sâu, Điếc bảy đời… nhắc nhở về những lối sống “thành bướm đừng quên sâu”, “chưa nghe rõ đã nhíu lông mày". Truyện Thỏ xử kiện phản ánh khát khao công lý, trí tuệ thông minh đấu tranh cho lẽ phải ở trên đời…
    Truyện cười như tập truyện Th Mênh Chey - một truyện trào lộng phong phú giống như truyện Trạng Quỳnh của người Kinh. Nhân vật chính Th Mênh Chey là một người nông dân mồ côi, liên tiếp tạo ra những tình huống gây cười, nhạo báng sự độc ác ngu si của bọn quan lại phong kiến Khmer.
    Văn học dân gian truyền miệng ở người Khmer vô cùng phong phú, đa dạng. Gắn liền với văn học Khmer có kho tàng nghệ thuật sân khấu rất phong phú. Như loại hình sâu khấu Dù kê - một loại vũ kịch ca nhạc, diễn viên vừa theo nhịp vỗ trống Dù kê của dàn nhạc, vừa đi vừa múa hát về một sự tích hay cốt truyện nào đó. Loại hình sân khấu Rô băm còn gọi là Rôm yak, một loại vũ kịch cổ điển, các diễn viên lên sâu khấu múa hát, đối thoại về một vở diễn nào đó, nội dung kể về anh hùng cứu người bị nạn, về sự đấu tranh diệt ác tích thiện…
    Người Khmer có một nền ca nhạc rất phong phú. Nhạc cụ gồm các loại nhị, đàn, đàn thuyền (rô néat), sáo gỗ (xralay), trống vỗ (xomphô), trống cái (xko thum); đặc biệt là dàn nhạc Pinh Piết gồm hai dàn chiêng (kôông thum) 18 cái, âm thanh từ rất trầm đến cao vút. Âm nhạc của người Khmer bao giờ cũng nổi đình đám khi hòa tấu trong các dịp lễ hội, đám cưới, đám cúng Phật, cúng thần. Âm nhạc khơi nguồn cho ca hát. Người Khmer có nhiều điệu: hát ru con, hát trong lao động, hát huê tình, hát lễ nghi, hát diễn truyện thơ (Chum riên chàpây), hát đối đáp (aday)…
    Không một người Khmer nào không biết vài điệu múa, người Khmer thường nói là đi xem múa. Múa Lăm vông khoan thai; múa kiếm (Răm khách) chậm rãi; múa Răm saravan và Lăm lêu sôi động, nhanh nhẹn; cùng với các điệu múa ném nhung, múa trống (xè dăm), múa chim công (Răm ca ngok), múa gáo dừa (Răm ta lok). Múa được diễn ra ở hầu khắp các cuộc vui.
    Thật vậy, người Khmer có một kho tàng văn nghệ phong phú, có truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười…, có một nền sâu khấu truyền thống: Dù kê, Dì kê…, một nền âm nhạc có nguồn gốc Ấn Độ và Đông Nam Á. Nghệ thuật kiến trúc và điệu khắc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc của người Khmer.

    Tài liệu tham khảo:
    • Giáo trình Dân Tộc học đại cương – Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo Dục, tháng 10/2007.
    • Nhận diện Văn hóa các Dân tộc Thiểu số Việt Nam - Nguyễn Đăng Duy, Nhà xuất bản Văn Hóa Dân tộc, ngày 03/06/2004.
    • Việt Nam Văn hóa và Du lịch – Trần Mạnh Thường, Nhà xuất bản Thông Tấn, ngày 27/10/2004.

    Thanks so much.


 

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

     

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •